Xử lý ô nhiễm môi trường tại các thuỷ vực trên địa bàn tỉnh

Trong nhiều năm trở lại đây, tình hình phát triển kinh tế, xã hội tỉnh Vĩnh Phúc luôn có nhiều khởi sắc, tăng trưởng kinh tế hàng năm luôn đạt trên 15%. Sự phát triển kinh tế đã kéo theo những bức xúc về ô nhiễm môi trường ở tất cả các khu vực: thành thị, nông thôn, khu đô thị, khu công nghiệp, làng nghề... Chất lượng môi trường, đặc biệt là môi trường nước mặt tại các sông, suối, hồ, đầm trên địa bàn tỉnh ngày một suy giảm, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sức khoẻ của người dân. Theo Báo cáo quan trắc hiện trạng môi trường hàng năm, nhìn chung các thuỷ vực nước mặt trên địa bàn tỉnh đều đang bị ô nhiễm từ mức độ trung bình đến nặng, mức độ ô nhiễm cao tập trung chủ yếu ở khu vực có mật độ dân cư đông và những địa phương có làng nghề phát triển. Môi trường nước mặt chủ yếu là ô nhiễm bởi các chất hữu cơ, Amoniac, chất rắn lơ lửng.

Nguyên nhân của tình trạng ô nhiễm là do các thuỷ vực phải tiếp nhận trực tiếp các loại nguồn thải chưa qua xử lý như: chất thải chăn nuôi, nước thải khu vực làng nghề và các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ nằm xen kẽ trong khu dân  cư, nước thải các trung tâm y tế, bệnh viện, đặc biệt là nước thải công nghiệp... Ngoài ra, các thuỷ vực còn phải tiếp nhận các loại chất thải rắn như rác thải sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp và chất thải rắn xây dựng... Đây cũng là nguyên nhân chính đang tác động mạnh đến môi trường nước mặt, làm cho nồng độ các chất ô nhiễm ngày càng tăng cao và chất lượng nước ngày càng bị suy giảm.

Các thuỷ vực là nơi lưu giữ nước tạm thời khi trời mưa, là nơi chứa đựng và giảm nhẹ tác hại của nước thải và có vai trò rất quan trọng trong việc điều hoà không khí, Trước tình hình ô nhiễm các thuỷ vực ngày càng gia tăng, năm 2008, Sở Tài nguyên và Môi trường Vĩnh Phúc đã lên Kế hoạch hỗ trợ xử lý ô nhiễm môi trường tại các thuỷ vực ô nhiễm nặng, nhằm tránh giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước; nâng cao chất lượng môi trường khu dân cư, tạo cảnh quan trong khu vực; xoá mầm bệnh, phòng tránh các bệnh dịch lây lan từ nguồn nước. Hoạt động này cũng nhằm cải thiện điều kiện sinh hoạt, sản xuất của nhân dân trong vùng; nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của cộng đồng dân cư; đồng thời còn để xác định hiệu quả của chất xử lý nước Kabenlis do thạc sỹ Lê Ngọc Ninh – Trường Cao đẳng Công nghiệp Vĩnh Phúc sáng chế (sản phẩm được Hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ Nhất năm 2006-2007 trao giải nhất tại Quyết định số 31/QĐ-HTSTKT ngày 27/9/207 của Ban tổ chức hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ nhất và đã được UBND tỉnh Vĩnh Phúc tặng Bằng khen, được công bố trên Tuyển tập Báo cáo khoa học mỏ toàn quốc lần thứ XVII năm 2006 của Hội Khoa học và Công nghệ Mỏ Việt Nam) để phổ biến, áp dụng vào thực tế.

Trong năm 2008, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành hỗ trợ xử lý môi trường tại 09 thuỷ vực. Hầu hết các thuỷ vực này là nơi chứa đựng và lưu giữ nước thải của toàn bộ các hộ dân xung quanh chất lượng nước đang ô nhiễm, gây mùi hôi nghiêm trọng và có nguy cơ ngấm xuống tầng nước ngầm, ảnh hưởng tới nước sinh hoạt của nhân dân xung quanh. Một số thuỷ vực bèo và cỏ, rác che kín toàn bộ bề mặt như ao Đình Tiên Hường (thị trấn Hương Canh), ao Phủ (phường Phúc Thắng), ao Tư Văn (xã Trung Kiên). Được sự đồng tình ủng hộ của chính quyền địa phương, tổ công tác của Sở Tài nguyên và Môi trường đã tuyên truyền vận động các hộ dân xung quanh tạo điều kiện tốt nhất trong quá trình xử lý, các hộ dân lấn chiếm bờ ao để xây lều, quán hoặc trồng cây tự nguyện tháo rỡ giải phóng mặt mặt để tổ công tác tiến hành thi công. Các nội dung công việc tiến hành là vệ sinh xung quanh hồ, vớt bèo, thu rọn rác thải, phát quang cỏ, cây bụi, dùng tàu hút hút bùn và các chất cặn bã lắng đọng lâu ngày trong lòng hồ; sau đó dùng hoá chất Kabenlis (tác nhân xử lý) hoà tan thành dung dịch rồi phun đều lên bề mặt hồ theo tỷ lệ nhất định. Sau khi phun đều hoá chất, dùng máy nén khí sục vào nước hồ làm tăng độ chuyển khối và độ tiếp xúc giữa nước hồ và tác nhân xử lý. Tác nhân xử lý sẽ phản ứng với tạp chất có trong nước thải tạo thành bùn cặn dạng keo tụ lắng xuống đáy hồ. Kết thúc quy trình xử lý, ngay lập tức nước trong hồ hết mùi hôi và để ổn định trong 3–4 ngày, tạp chất lơ lửng lắng xuống, các động vật thuỷ sinh vẫn sống bình thường và nước sẽ trong trở lại. Trước và sau khi xử lý, Sở Tài nguyên và Môi trường giao cho Trung tâm Tài nguyên và Bảo vệ môi trường lấy mẫu phân tích, kết quả cho thấy một số chỉ tiêu giảm đáng kể như: BOD, COD, TSS, tổng Coliform...

Việc hỗ trợ xử lý các thuỷ vực ô nhiễm môi trường là một việc làm cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng môi trường khu dân cư, tạo cảnh quan trong khu vực, xoá mầm bệnh, phòng tránh các bệnh dịch lây lan từ nguồn nước. Tuy nhiên, để giữ thành quả của quá trình xử lý được lâu dài, cần phải được sự đồng tình ủng hộ của chính quyền địa phương, đặc biệt là các hộ dân xung quanh cần nêu cao ý thức không xả rác, không xả nước thải sinh hoạt, chăn nuôi chưa được xử lý xuống thuỷ vực.

Tác giả bài viết: Trung tâm CNTT

Nguồn tin: Bản tin TN&MT