09:31 ICT Chủ nhật, 28/11/2021

Liên kết site

Video

Thành viên

Thống kê truy cập

váy đẹp Đang truy cập : 31


2 Hôm nay : 5469

thoi trang nu Tháng hiện tại : 438158

1 Tổng lượt truy cập : 23556297

Trang nhất » Tin Tức » Tin tức hoạt động

UBND tỉnh Vĩnh Phúc báo cáo Văn phòng Chính phủ kết quả rà soát, kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật

Thứ tư - 21/07/2021 14:07
Thực hiện Công văn 4611/VPCP-PL ngày 10/7/2021 của Văn phòng Chính phủ về rà soát, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật gây vướng mắc trong đầu tư, kinh doanh, ngày 19/7/2021, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã có Văn bản số 5847/UBND-NC2 gửi Văn phòng Chính phủ về việc báo cáo kết quả rà soát, kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật, trong đó có nội dung về Tài nguyên và Môi trường, cụ thể như sau:Thực hiện Công văn 4611/VPCP-PL ngày 10/7/2021 của Văn phòng Chính phủ về rà soát, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật gây vướng mắc trong đầu tư, kinh doanh, ngày 19/7/2021, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã có Văn bản số 5847/UBND-NC2 gửi Văn phòng Chính phủ về việc báo cáo kết quả rà soát, kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật, trong đó có nội dung về Tài nguyên và Môi trường, cụ thể như sau:
1. Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 21/6/2012; Nghị định số 201/2013/NĐ-CP; Nghị định 67/2018/NĐ-CP
Luật Tài nguyên nước năm 2012 có quy định về cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước (Điều 37); Luật cũng như văn bản hướng dẫn thi hành Luật Tài nguyên nước không có quy định cụ thể cho từng nguồn tiếp nhận nước thải (không phân biệt nguồn tiếp nhận). Trong khi đó, Luật Thủy lợi năm 2017 cũng có quy định về cấp giấy phép xả nước thải vào công trình thủy lợi. Thực chất việc xả nước thải vào công trình thủy lợi cũng là xả nước thải vào nguồn nước.
Tại Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước:
“Điều 29. Cơ quan tiếp nhận và quản lý hồ sơ, giấy phép
Cơ quan tiếp nhận và quản lý hồ sơ, giấy phép (sau đây gọi chung là cơ quan tiếp nhận hồ sơ) bao gồm:
1. Cục Quản lý tài nguyên nước thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tiếp nhận, thẩm định và quản lý hồ sơ, giấy phép thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
2. Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tiếp nhận, thẩm định và quản lý hồ sơ, giấy phép thuộc thẩm quyền cấp phép của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh”.
Tại Nghị định 67/2018/NĐ-CP ngày 14/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thủy lợi:
“ Điều 17. Cơ quan tiếp nhận và quản lý hồ sơ, giấy phép    
1. Tổng cục Thủy lợi thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp nhận và quản lý hồ sơ, giấy phép thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
2. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp nhận và quản lý hồ sơ, giấy phép thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh”.
Như vậy, việc quản lý giấy phép xả nước thải ra nguồn nước hiện tại có hai ngành thực hiện. Việc quản lý song trùng như vậy gây khó khăn cho công tác quản lý của cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên nước và môi trường.
Bên cạnh đó, việc xác định công trình thuỷ lợi cũng chưa phân định rõ ràng, do vậy trong thực tế, cùng một nguồn tiếp nhận nước thải có 2 loại giấy phép của cả ngành Nông nghiệp và ngành Tài nguyên và Môi trường tham mưu cấp phép, quản lý, gây phức tạp, phiền hà cho cơ quan quản lý cũng như các tổ chức, cá nhân có hoạt động xả nước thải ra nguồn nước; căn cứ cấp phép xả nước thải vào công trình thủy lợi (Điều 15 Nghị định 67/2018/NĐ-CP), cũng chưa có sự thống nhất với quy định của pháp luật Tài nguyên nước (Điều 19 Nghị định 201/2013/NĐ-CP)…
Kiến nghị, đề xuất:
Đề nghị rà soát, sửa đổi, bổ sung, tránh sự chồng chéo; giải thích từ ngữ đảm bảo rõ ràng, quy định cụ thể, đảm bảo không chồng chéo về thẩm quyền giữa ngành Tài nguyên và Môi trường với ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
2. Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013
Nội dung 1: Tại khoản 3 Điều 108 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Thời điểm tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất”. Theo quy định trên thì thời điểm tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất và giá đất để tính thu tiền sử dụng đất là giá đất cụ thể được xác định theo giá thị trường tại thời điểm xác định giá theo các phương pháp xác định giá quy định tại Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Tuy nhiên, các thủ tục để đưa dự án vào kế hoạch định giá đất và thuê đơn vị tư vấn xác định giá thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của dự án mất nhiều thời gian, nên việc xác định giá thu tiền sử dụng đất cho các dự án có những trường hợp bị chậm so với thời điểm quyết định giao đất của dự án; dẫn đến sự hiểu nhầm của các doanh nghiệp xác định tiền sử dụng đất chậm, các doanh nghiệp đề nghị xác định giá đất cụ thể tại thời điểm giao đất trong khi tại thời điểm xác định giá đất cụ thể thì giá thị trường cao hơn giá đất tại thời điểm giao đất.
Kiến nghị, đề xuất: Đề nghị bổ sung thêm khoản 3 Điều 108 Luật Đất đai năm 2013 và các Nghị định về thu tiền sử dụng đất: "Đối với các trường hợp chậm tính tiền sử dụng đất thì giá đất để tính thu tiền sử dụng đất là giá đất cụ thể tại thời điểm xác định giá đất".
Nội dung 2: Đề nghị nghiên cứu sửa đổi, bổ sung vào “Điều 3. Giải thích từ ngữ và Điều 10. Phân loại đất” các loại đất công trình hạ tầng kỹ thuật (phần ngầm, phần trên không, bến bãi, bãi đỗ), công trình quảng cáo, công trình tín ngưỡng và các công trình phụ trợ, công viên, cây xanh... cho phù hợp với phân cấp phân loại công trình, chức năng sử dụng đất quy hoạch xây dựng, đô thị theo quy định của pháp luật về xây dựng để đảm bảo tính thống nhất trong quá trình thu hồi, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất khi thực hiện các dự án đầu tư.
Kiến nghị, đề xuất: Đề nghị Sửa đổi Điều 3 Luật Đất đai năm 2013.
Nội dung 3: Thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với cấp huyện (tại Điều 59) là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư. Theo đó đang quy định “hộ gia đình, cá nhân thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ từ 0,5 ha trở lên thì phải có văn bản chấp thuận của UBND cấp tỉnh trước khi quyết định” là chưa chặt chẽ và tại cấp huyện xảy ra hiện tượng chuyển đổi mục đích sử dụng đất, cho thuê đất thiếu sự kiểm soát, đặc biệt là đất rừng sản xuất và đất quỹ 2, ảnh hưởng đến công tác bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội.
 Đề nghị bổ sung nội dung: “hộ gia đình, cá nhân thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích sản xuất, thương mại, dịch vụ, trang trại chăn nuôi phải phù hợp với Quy hoạch xây dựng được duyệt và có văn bản chấp thuận của UBND cấp tỉnh trước khi quyết định”.
Kiến nghị, đề xuất: Đề nghị bổ sung nội dung Điều 59 Luật Đất đai năm 2013.
Nội dung 4: Theo quy định tại Điều 62 Luật Đất đai 2013 thì Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trong một số trường hợp, trong đó có dự án xây dựng khu đô thị mới. Tuy nhiên, trong thời gian qua việc thực hiện cơ chế Nhà nước thu hồi đất các dự án xây dựng khu đô thị mới để tiến hành giải phóng mặt bằng rất khó khăn. Cơ quan Nhà nước không thể xác định được thời điểm chính xác hoàn thành giải phóng mặt bằng dự án để giao cho chủ đầu tư thực hiện dự án, cũng không thể xác định được tổng chi phí giải phóng mặt bằng để nhà đầu tư có cơ sở tính toán tổng chi phí đầu tư.
Do vậy, cần thiết sửa đổi, bổ sung Điều 62 Luật Đất đai 2013 để xác định rõ tính pháp lý về thẩm quyền của UBND tỉnh khi phê duyệt dự án đầu tư xây dựng các khu đô thị mới, khu nhà ở; hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư các dự án phù hợp với quy hoạch được duyệt. Cần nghiên cứu việc cơ quan Nhà nước được phép thực hiện thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, sau đó tiến hành đấu giá đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất để lựa chọn nhà đầu tư để đảm bảo minh bạch.
Kiến nghị, đề xuất: Đề nghị sửa đổi, bổ sung Điều 62 Luật Đất đai 2013.
Nội dung 5: Ngoài các dự án thuộc Nhà nước thu hồi đất theo quy định Điều 62 Luật Đất đai 2013, thì các dự án có sử dụng đất khác phải tự thỏa thuận bồi thường giải phóng mặt bằng và trình cơ quan có thẩm quyền chuyển đổi mục đích sử dụng. Tuy nhiên, việc thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn và kéo dài, ảnh hưởng đến tiến độ dự án với lý do: Trong phạm vi dự án chủ yếu là đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình, cá nhân, sau đó các hộ không có nhu cầu hoặc khó khăn về kinh tế chuyển cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân khác, dẫn đến khi chủ đầu tư dự án thỏa thuận bồi thường gặp khó khăn do giá cao hoặc không đồng ý chuyển nhượng; là nguyên nhân gây ra tình trạng đầu cơ, sốt giá và bong bóng bất động sản đang diễn ra hiện nay. Mặt khác, doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài (FDI) không có quyền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều 191, điểm b khoản 1 Điều 169 Luật Đất đai năm 2013, khoản 1 Điều 39 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Như vậy, chỉ thực hiện được các dự án, trong khu, cụm công nghiệp. Tuy nhiên, trong thực tiễn, nhiều doanh nghiệp FDI đang thực hiệu nhiều các dự án về lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, chăn nuôi mà phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất (không thuộc dự án Nhà nước thu hồi đất), khi đó không tự thỏa thuận bồi thường giải phóng mặt bằng.
Kiến nghị, đề xuất: Nghiên cứu sửa, đổi bổ sung Luật Đất đai năm 2013 về  thỏa thuận chuyển nhượng đất thực hiện dự án đối với doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài; hạn mức đất nông nghiệp, khung giá đất thỏa thuận chuyển nhượng; quy định về đăng ký chuyển quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất; điều kiện chia tách thửa... để thu nghĩa vụ thuế, kiểm soát các giao dịch ảo, thổi giá đất, giá bất động sản nhằm thuận lợi cho công tác bồi thường giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội.
Nội dung 6: Theo quy định tại Điều 169 Luật Đất đai năm 2013, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bị hạn chế về việc nhận quyền sử dụng đất, chỉ được thực hiện các dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê, hoặc thông qua các chủ đầu tư để thuê lại đất trong khu công nghiệp (KCN) hoặc làm các chủ đầu tư hạ tầng các KCN (theo Điều 149). Do đó, đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hiện hữu đầu tư tại tỉnh (Honda, Toyota, Japfa Comfeed...) mong muốn được mở rộng quy mô, phạm vi dự án ngoài các KCN bị vướng mắc về cơ chế tạo quỹ đất. Trường hợp ngoài các KCN không được thực hiện cơ chế thu hồi đất, cũng không được nhận quyền sử dụng đất qua việc thỏa thuận, nhận chuyển nhượng.
Kiến nghị, đề xuất: Đề nghị sửa đổi Luật Đất đai năm 2013 cho phù hợp với thực tiễn.
3. Luật Đất đai 2013 và Nghị định số 68/2017/NĐ-CP
Theo quy định tại khoản 2 Điều 149 Luật Đất đai: "Nhà nước cho thuê đất đối với tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất. Đối với phần diện tích thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm thì người được Nhà nước cho thuê đất có quyền cho thuê lại đất với hình thức trả tiền thuê đất hàng năm;..." và "Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào sản xuất, kinh doanh trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất được thuê lại đất gắn với kết cấu hạ tầng của tổ chức kinh tế khác, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng". Như vậy, theo Luật Đất đai thì nhà đầu tư thứ cấp trong các khu, cụm công nghiệp không được thuê đất trực tiếp với UBND tỉnh mà phải thuê lại đất của nhà đầu tư cấp I (nhà đầu tư xây dựng, kinh doanh hạ tầng) các khu, cụm công nghiệp đã hình thành và đã có hạ tầng.
Tại Điều 23 Nghị định số 68/2017/NĐ-CP ngày 25/5/2017 của Chính phủ về quản lý, phát triển cụm công nghiệp thì việc thuê đất, cấp giấy phép xây dựng trong cụm công nghiệp được quy định: "1. Các tổ chức, cá nhân đầu tư vào cụm công nghiệp thực hiện thủ tục thuê đất của Nhà nước hoặc thuê lại đất đã đầu tư hạ tầng kỹ thuật của chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật; quản lý, sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai". Thực tế tại tỉnh Vĩnh Phúc, nhu cầu thuê đất để thực hiện dự án sản xuất với quy mô diện tích lớn là rất lớn. Tuy nhiên, quỹ đất công nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp đã hình thành không còn nhiều, trong khi các thủ tục để triển khai thực hiện đầu tư xây dựng và kinh doạnh hạ tầng khu, cụm công nghiệp (nhất là đối với khu công nghiệp) để có thể đủ điều kiện cho thuê đất sẽ mất nhiều thời gian, ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư, giải quyết công ăn việc làm tại địa phương.
Kiến nghị, đề xuất: Đề nghị nghiên cứu việc giao, cho thuê đất công nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp tại Luật Đất đai theo hướng mở; thống nhất giữa Luật Đất đai và các văn bản liên quan.
4. Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 31/2021/NĐ-CP
Điểm c khoản 3 Điều 62 Luật Đất đai 2013 quy định trường hợp Nhà nước thu hồi đất gồm: “…c) Dự án xây dựng công trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư; dự án tái định cư, nhà ở cho sinh viên, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ; xây dựng công trình của cơ sở tôn giáo; khu văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí phục vụ công cộng; chợ; nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng”. d) Dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới; chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn...”.
Khoản 1 Điều 108 Nghị định số 31/2021/NĐ-CP (sửa đổi điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị định 25/2020/NĐ-CP của Chính phủ) quy định: “b) Dự án đầu tư có sử dụng đất để xây dựng khu đô thị; xây dựng công trình dân dụng có một hoặc nhiều công năng gồm: nhà ở thương mại; trụ sở, văn phòng làm việc; công trình thương mại, dịch vụ”.
Như vậy, đối với các dự án hỗn hợp, đa mục tiêu nhưng không phải là các khu đô thị mới hoặc không xác định được thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi hay thỏa thuận chuyển mục đích để đáp ứng điều kiện:“2. Thuộc danh mục dự án cần thu hồi đất được duyệt theo quy định của pháp luật về đất đai, thuộc khu đất do Nhà nước đang quản lý, sử dụng mà sẽ được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Ban quản lý khu kinh tế giao đất, cho thuê đất cho nhà đầu tư được chấp thuận...”, theo quy định tại khoản 4 Điều 108 Nghị định 31/2021/NĐ-CP (sửa đổi bổ sung Điều 11 Nghị định số 25/2020/NĐ-CP của Chính phủ) thì việc lựa chọn chủ đầu tư, chấp thuận đầu tư, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư gặp vướng mắc; đặc biệt là các dự án nhà ở thương mại do nhà đầu tư chưa có 100% đất ở, chưa được chuyển mục đích sử dụng đất, trong khi theo Luật Đất đai thì thực hiện theo hình thức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án.
Kiến nghị, đề xuất: Đề nghị sửa đổi Luật Đất đai 2013 và Nghị định số 31/2021/NĐ-CP cho phù hợp.
5. Luật Đấu thầu 43/2013/QH13, Luật Nhà ở 65/2014/QH13, Luật Đất đai năm 2013 và văn bản hướng dẫn thi hành    
Theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở thì đối với trường hợp khu đất thực hiện dự án chưa được bồi thường, giải phóng mặt bằng, việc lựa chọn nhà đầu tư đối với dự án loại này là đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư. Để tiến hành lựa chọn nhà đầu tư thì theo quy định tại Điều 11 của Nghị định số 25/2020/NĐ-CP ngày 28/02/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư, thì một trong số các điều kiện là dự án phải nằm trong Danh mục dự án cần thu hồi đất đã được phê duyệt (được hiểu là các khu đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của Nhà nước hoặc sẽ được Nhà nước thu hồi, tức là thuộc danh mục dự án cần thu hồi đất đã được HĐND tỉnh thông qua). Tuy nhiên, khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án thì khu đất đó sẽ trở thành đất sạch và việc giao đất phải thực hiện qua cơ chế đấu giá theo quy định của Luật Đất đai. Như vậy, việc lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án có thể phải thực hiện qua hai hình thức lựa chọn (đầu thầu và đấu giá), dẫn đến trường hợp có nhà đầu tư trúng đấu thầu dự án (tức là được giao chủ đầu tư thực hiện dự án) có khi không trúng đấu giá, hiện tại thì chưa có văn bản hướng dẫn phương án giải quyết như thế nào. Do vậy, cần thiết nghiên cứu bổ sung việc lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án khu đô thị mới (và các dự án có sử dụng đất) qua hình thức đấu thầu vào Luật Đất đai để thống nhất với Luật Nhà ở, Luật Đấu thầu. Đối với dự án đầu tư xây dựng (ĐTXD) nhà ở: Theo quy định của pháp luật đất đai, chỉ đối với dự án khu đô thị mới, việc giải phóng mặt bằng (GPMB) được thực hiện qua cơ chế Nhà nước thu hồi đất. Đối với dự án ĐTXD nhà ở để bán hoặc cho thuê mua, việc giao cho thuê đất được thực hiện theo cơ chế đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 118 Luật Đất đai năm 2013 và theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 22 Luật Nhà ở 2014. Theo quy định tại khoản 1 Điều 119 Luật Đất đai năm 2013 thì một trong những điều kiện để đấu giá là đất đã được GPMB, mà để thực hiện được việc GPMB thì khu đất (hầu hết quỹ đất để thực hiện dự án phát triển nhà ở có nguồn gốc là đất nông nghiệp) phải được Nhà nước thu hồi đất. Điểm này là mâu thuẫn do tại Điều 62 Luật Đất đai, Nhà nước chỉ thu hồi đất đối với dự án khu đô thị mới.
Kiến nghị, đề xuất: Đề nghị nghiên cứu, quy định rõ về các đối tượng được Nhà nước thu hồi đất đối với dự án có tên gọi là dự án nhà ở (theo quy định của Luật Nhà ở, Nghị định 11/2013/NĐ-CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ về quản lý đầu tư phát triển đô thị thì dự án khu đô thị mới cũng là dự án nhà ở).
6. Nghị quyết số 60/2018/QH14 ngày 15/6/2018 của Quốc hội, Nghị quyết số 82/2019/QH14, 134/2020/QH14
Các Công ty nhà nước đã hoàn thành thực hiện việc cổ phần hóa từ thời điểm trước Nghị quyết số 60/2018/QH14, 82/2019/QH14,.. và đã thoái vốn Nhà nước 100%, đang thực hiện việc thuê đất của Nhà nước theo các hình thức trả tiền thuê đất hàng năm hoặc trả tiền thuê đất một lần, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, nay có nhu cầu xin chuyển mục đích sử dụng đất sang thực hiện các dự án nhà ở thương mại, các khu đô thị mới... theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 60/2018/QH14 ngày 15/6/2018 của Quốc hội thì các “trường hợp được cấp có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất khác với phương án đã được phê duyệt thì tổ chức thu hồi và đấu giá công khai theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên hiện nay, theo Nghị quyết số 134/2020/QH14 của Quốc hội thì Nghị quyết số 60/2018/QH14 ngày 15/6/2018 đã hết hiệu lực pháp luật, đồng thời các Nghị quyết số 82/2019/QH14, số 134/2020/QH14 cũng không hướng dẫn xử lý chuyển tiếp nội dung trên. Vì vậy, cần hướng dẫn, làm rõ việc chuyển mục đích sử dụng đất khác với phương án cổ phần hóa đã được phê duyệt thì có tổ chức thu hồi và đấu giá công khai hay thực hiện chuyển mục tiêu dự án theo Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, sau đó chuyển mục đích sử dụng đất theo Luật Đất đai. Luật Đầu tư và Luật Đất đai chưa quy định rõ trường hợp trên thực hiện việc chấp thuận chủ đầu tư, lựa chọn chủ đầu tư như thế nào khi dự án chưa được chuyển mục đích sử dụng đất, cũng như trình tự, thủ tục, điều kiện nào mới đảm bảo quy định pháp luật (do vậy không có mối liên quan giữa các thủ tục đầu tư, xây dựng, đô thị với đất đai khi chuyển mục tiêu dự án đầu tư, chuyển mục đích sử dụng đất).
Kiến nghị, đề xuất: Đề nghị có hướng dẫn, chỉ đạo làm rõ việc chuyển mục đích sử dụng đất khác với phương án cổ phần hóa đã được phê duyệt thì có tổ chức thu hồi và đấu giá công khai, hay thực hiện chuyển mục tiêu dự án theo Luật đầu tư, Luật Nhà ở, sau đó chuyển mục đích sử dụng đất theo Luật Đất đai.
7. Luật Đất đai năm 2013 và Luật Đấu thầu 43/2013/QH13
Luật Đất đai 2013 chỉ quy định các trường hợp phải áp dụng hoặc không áp dụng đấu giá quyền sử dụng đất (không quy định trường hợp phải đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư dự án sử dụng đất). Do đó, xảy ra vướng mắc tại khâu giao đất, cho thuê đất đối với dự án có sử dụng đất thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu thầu về đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư
Kiến nghị, đề xuất: Đề xuất quy định cụ thể về vấn đề nêu trên.
8. Nghị định số 67/2018/NĐ-CP, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP
Theo quy định của pháp luật bảo vệ môi trường thì có nhiều hoạt động phát sinh nước thải lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc đăng ký Kế hoạch bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, trong các quy định liên quan đến cấp phép xả nước thải (Nghị định số 67/2018/NĐ-CP, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP) thì trong thành phần hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép xả nước thải (Điều 33 Nghị định số 201/2013/NĐ-CP; Điều 23 Nghị định 67/2018/NĐ-CP) không có Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc Kế hoạch bảo vệ môi trường (thông thường việc lập hồ sơ cấp phép xả nước thải được thực hiện sau quá trình lập, phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường, xác nhận đăng ký Kế hoạch bảo vệ môi trường), cũng không có quy định ràng buộc hoặc áp dụng các quy định của pháp luật bảo vệ môi trường trong việc cấp phép, do vậy có thể xảy ra trường hợp nội dung của Giấy phép không thống nhất với nội dung Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc Kế hoạch bảo vệ môi trường được phê duyệt, xác nhận…
Kiến nghị, đề xuất: Đề nghị sửa đổi, bổ sung Nghị định số 67/2018/NĐ-CP, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP đảm bảo phù hợp, thống nhất với pháp luật bảo vệ môi trường.
1. Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 21/6/2012; Nghị định số 201/2013/NĐ-CP; Nghị định 67/2018/NĐ-CP
Luật Tài nguyên nước năm 2012 có quy định về cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước (Điều 37); Luật cũng như văn bản hướng dẫn thi hành Luật Tài nguyên nước không có quy định cụ thể cho từng nguồn tiếp nhận nước thải (không phân biệt nguồn tiếp nhận). Trong khi đó, Luật Thủy lợi năm 2017 cũng có quy định về cấp giấy phép xả nước thải vào công trình thủy lợi. Thực chất việc xả nước thải vào công trình thủy lợi cũng là xả nước thải vào nguồn nước.
Tại Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước:
“Điều 29. Cơ quan tiếp nhận và quản lý hồ sơ, giấy phép
Cơ quan tiếp nhận và quản lý hồ sơ, giấy phép (sau đây gọi chung là cơ quan tiếp nhận hồ sơ) bao gồm:
1. Cục Quản lý tài nguyên nước thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tiếp nhận, thẩm định và quản lý hồ sơ, giấy phép thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
2. Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tiếp nhận, thẩm định và quản lý hồ sơ, giấy phép thuộc thẩm quyền cấp phép của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh”.
Tại Nghị định 67/2018/NĐ-CP ngày 14/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thủy lợi:
“ Điều 17. Cơ quan tiếp nhận và quản lý hồ sơ, giấy phép    
1. Tổng cục Thủy lợi thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp nhận và quản lý hồ sơ, giấy phép thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
2. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp nhận và quản lý hồ sơ, giấy phép thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh”.
Như vậy, việc quản lý giấy phép xả nước thải ra nguồn nước hiện tại có hai ngành thực hiện. Việc quản lý song trùng như vậy gây khó khăn cho công tác quản lý của cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên nước và môi trường.
Bên cạnh đó, việc xác định công trình thuỷ lợi cũng chưa phân định rõ ràng, do vậy trong thực tế, cùng một nguồn tiếp nhận nước thải có 2 loại giấy phép của cả ngành Nông nghiệp và ngành Tài nguyên và Môi trường tham mưu cấp phép, quản lý, gây phức tạp, phiền hà cho cơ quan quản lý cũng như các tổ chức, cá nhân có hoạt động xả nước thải ra nguồn nước; căn cứ cấp phép xả nước thải vào công trình thủy lợi (Điều 15 Nghị định 67/2018/NĐ-CP), cũng chưa có sự thống nhất với quy định của pháp luật Tài nguyên nước (Điều 19 Nghị định 201/2013/NĐ-CP)…
Kiến nghị, đề xuất:
Đề nghị rà soát, sửa đổi, bổ sung, tránh sự chồng chéo; giải thích từ ngữ đảm bảo rõ ràng, quy định cụ thể, đảm bảo không chồng chéo về thẩm quyền giữa ngành Tài nguyên và Môi trường với ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
2. Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013
Nội dung 1: Tại khoản 3 Điều 108 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Thời điểm tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất”. Theo quy định trên thì thời điểm tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất và giá đất để tính thu tiền sử dụng đất là giá đất cụ thể được xác định theo giá thị trường tại thời điểm xác định giá theo các phương pháp xác định giá quy định tại Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Tuy nhiên, các thủ tục để đưa dự án vào kế hoạch định giá đất và thuê đơn vị tư vấn xác định giá thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của dự án mất nhiều thời gian, nên việc xác định giá thu tiền sử dụng đất cho các dự án có những trường hợp bị chậm so với thời điểm quyết định giao đất của dự án; dẫn đến sự hiểu nhầm của các doanh nghiệp xác định tiền sử dụng đất chậm, các doanh nghiệp đề nghị xác định giá đất cụ thể tại thời điểm giao đất trong khi tại thời điểm xác định giá đất cụ thể thì giá thị trường cao hơn giá đất tại thời điểm giao đất.
Kiến nghị, đề xuất: Đề nghị bổ sung thêm khoản 3 Điều 108 Luật Đất đai năm 2013 và các Nghị định về thu tiền sử dụng đất: "Đối với các trường hợp chậm tính tiền sử dụng đất thì giá đất để tính thu tiền sử dụng đất là giá đất cụ thể tại thời điểm xác định giá đất".
Nội dung 2: Đề nghị nghiên cứu sửa đổi, bổ sung vào “Điều 3. Giải thích từ ngữ và Điều 10. Phân loại đất” các loại đất công trình hạ tầng kỹ thuật (phần ngầm, phần trên không, bến bãi, bãi đỗ), công trình quảng cáo, công trình tín ngưỡng và các công trình phụ trợ, công viên, cây xanh... cho phù hợp với phân cấp phân loại công trình, chức năng sử dụng đất quy hoạch xây dựng, đô thị theo quy định của pháp luật về xây dựng để đảm bảo tính thống nhất trong quá trình thu hồi, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất khi thực hiện các dự án đầu tư.
Kiến nghị, đề xuất: Đề nghị Sửa đổi Điều 3 Luật Đất đai năm 2013.
Nội dung 3: Thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với cấp huyện (tại Điều 59) là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư. Theo đó đang quy định “hộ gia đình, cá nhân thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ từ 0,5 ha trở lên thì phải có văn bản chấp thuận của UBND cấp tỉnh trước khi quyết định” là chưa chặt chẽ và tại cấp huyện xảy ra hiện tượng chuyển đổi mục đích sử dụng đất, cho thuê đất thiếu sự kiểm soát, đặc biệt là đất rừng sản xuất và đất quỹ 2, ảnh hưởng đến công tác bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội.
 Đề nghị bổ sung nội dung: “hộ gia đình, cá nhân thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích sản xuất, thương mại, dịch vụ, trang trại chăn nuôi phải phù hợp với Quy hoạch xây dựng được duyệt và có văn bản chấp thuận của UBND cấp tỉnh trước khi quyết định”.
Kiến nghị, đề xuất: Đề nghị bổ sung nội dung Điều 59 Luật Đất đai năm 2013.
Nội dung 4: Theo quy định tại Điều 62 Luật Đất đai 2013 thì Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trong một số trường hợp, trong đó có dự án xây dựng khu đô thị mới. Tuy nhiên, trong thời gian qua việc thực hiện cơ chế Nhà nước thu hồi đất các dự án xây dựng khu đô thị mới để tiến hành giải phóng mặt bằng rất khó khăn. Cơ quan Nhà nước không thể xác định được thời điểm chính xác hoàn thành giải phóng mặt bằng dự án để giao cho chủ đầu tư thực hiện dự án, cũng không thể xác định được tổng chi phí giải phóng mặt bằng để nhà đầu tư có cơ sở tính toán tổng chi phí đầu tư.
Do vậy, cần thiết sửa đổi, bổ sung Điều 62 Luật Đất đai 2013 để xác định rõ tính pháp lý về thẩm quyền của UBND tỉnh khi phê duyệt dự án đầu tư xây dựng các khu đô thị mới, khu nhà ở; hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư các dự án phù hợp với quy hoạch được duyệt. Cần nghiên cứu việc cơ quan Nhà nước được phép thực hiện thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, sau đó tiến hành đấu giá đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất để lựa chọn nhà đầu tư để đảm bảo minh bạch.
Kiến nghị, đề xuất: Đề nghị sửa đổi, bổ sung Điều 62 Luật Đất đai 2013.
Nội dung 5: Ngoài các dự án thuộc Nhà nước thu hồi đất theo quy định Điều 62 Luật Đất đai 2013, thì các dự án có sử dụng đất khác phải tự thỏa thuận bồi thường giải phóng mặt bằng và trình cơ quan có thẩm quyền chuyển đổi mục đích sử dụng. Tuy nhiên, việc thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn và kéo dài, ảnh hưởng đến tiến độ dự án với lý do: Trong phạm vi dự án chủ yếu là đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình, cá nhân, sau đó các hộ không có nhu cầu hoặc khó khăn về kinh tế chuyển cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân khác, dẫn đến khi chủ đầu tư dự án thỏa thuận bồi thường gặp khó khăn do giá cao hoặc không đồng ý chuyển nhượng; là nguyên nhân gây ra tình trạng đầu cơ, sốt giá và bong bóng bất động sản đang diễn ra hiện nay. Mặt khác, doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài (FDI) không có quyền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều 191, điểm b khoản 1 Điều 169 Luật Đất đai năm 2013, khoản 1 Điều 39 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Như vậy, chỉ thực hiện được các dự án, trong khu, cụm công nghiệp. Tuy nhiên, trong thực tiễn, nhiều doanh nghiệp FDI đang thực hiệu nhiều các dự án về lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, chăn nuôi mà phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất (không thuộc dự án Nhà nước thu hồi đất), khi đó không tự thỏa thuận bồi thường giải phóng mặt bằng.
Kiến nghị, đề xuất: Nghiên cứu sửa, đổi bổ sung Luật Đất đai năm 2013 về  thỏa thuận chuyển nhượng đất thực hiện dự án đối với doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài; hạn mức đất nông nghiệp, khung giá đất thỏa thuận chuyển nhượng; quy định về đăng ký chuyển quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất; điều kiện chia tách thửa... để thu nghĩa vụ thuế, kiểm soát các giao dịch ảo, thổi giá đất, giá bất động sản nhằm thuận lợi cho công tác bồi thường giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội.
Nội dung 6: Theo quy định tại Điều 169 Luật Đất đai năm 2013, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bị hạn chế về việc nhận quyền sử dụng đất, chỉ được thực hiện các dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê, hoặc thông qua các chủ đầu tư để thuê lại đất trong khu công nghiệp (KCN) hoặc làm các chủ đầu tư hạ tầng các KCN (theo Điều 149). Do đó, đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hiện hữu đầu tư tại tỉnh (Honda, Toyota, Japfa Comfeed...) mong muốn được mở rộng quy mô, phạm vi dự án ngoài các KCN bị vướng mắc về cơ chế tạo quỹ đất. Trường hợp ngoài các KCN không được thực hiện cơ chế thu hồi đất, cũng không được nhận quyền sử dụng đất qua việc thỏa thuận, nhận chuyển nhượng.
Kiến nghị, đề xuất: Đề nghị sửa đổi Luật Đất đai năm 2013 cho phù hợp với thực tiễn.
3. Luật Đất đai 2013 và Nghị định số 68/2017/NĐ-CP
Theo quy định tại khoản 2 Điều 149 Luật Đất đai: "Nhà nước cho thuê đất đối với tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất. Đối với phần diện tích thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm thì người được Nhà nước cho thuê đất có quyền cho thuê lại đất với hình thức trả tiền thuê đất hàng năm;..." và "Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào sản xuất, kinh doanh trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất được thuê lại đất gắn với kết cấu hạ tầng của tổ chức kinh tế khác, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng". Như vậy, theo Luật Đất đai thì nhà đầu tư thứ cấp trong các khu, cụm công nghiệp không được thuê đất trực tiếp với UBND tỉnh mà phải thuê lại đất của nhà đầu tư cấp I (nhà đầu tư xây dựng, kinh doanh hạ tầng) các khu, cụm công nghiệp đã hình thành và đã có hạ tầng.
Tại Điều 23 Nghị định số 68/2017/NĐ-CP ngày 25/5/2017 của Chính phủ về quản lý, phát triển cụm công nghiệp thì việc thuê đất, cấp giấy phép xây dựng trong cụm công nghiệp được quy định: "1. Các tổ chức, cá nhân đầu tư vào cụm công nghiệp thực hiện thủ tục thuê đất của Nhà nước hoặc thuê lại đất đã đầu tư hạ tầng kỹ thuật của chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật; quản lý, sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai". Thực tế tại tỉnh Vĩnh Phúc, nhu cầu thuê đất để thực hiện dự án sản xuất với quy mô diện tích lớn là rất lớn. Tuy nhiên, quỹ đất công nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp đã hình thành không còn nhiều, trong khi các thủ tục để triển khai thực hiện đầu tư xây dựng và kinh doạnh hạ tầng khu, cụm công nghiệp (nhất là đối với khu công nghiệp) để có thể đủ điều kiện cho thuê đất sẽ mất nhiều thời gian, ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư, giải quyết công ăn việc làm tại địa phương.
Kiến nghị, đề xuất: Đề nghị nghiên cứu việc giao, cho thuê đất công nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp tại Luật Đất đai theo hướng mở; thống nhất giữa Luật Đất đai và các văn bản liên quan.
4. Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 31/2021/NĐ-CP
Điểm c khoản 3 Điều 62 Luật Đất đai 2013 quy định trường hợp Nhà nước thu hồi đất gồm: “…c) Dự án xây dựng công trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư; dự án tái định cư, nhà ở cho sinh viên, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ; xây dựng công trình của cơ sở tôn giáo; khu văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí phục vụ công cộng; chợ; nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng”. d) Dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới; chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn...”.
Khoản 1 Điều 108 Nghị định số 31/2021/NĐ-CP (sửa đổi điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị định 25/2020/NĐ-CP của Chính phủ) quy định: “b) Dự án đầu tư có sử dụng đất để xây dựng khu đô thị; xây dựng công trình dân dụng có một hoặc nhiều công năng gồm: nhà ở thương mại; trụ sở, văn phòng làm việc; công trình thương mại, dịch vụ”.
Như vậy, đối với các dự án hỗn hợp, đa mục tiêu nhưng không phải là các khu đô thị mới hoặc không xác định được thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi hay thỏa thuận chuyển mục đích để đáp ứng điều kiện:“2. Thuộc danh mục dự án cần thu hồi đất được duyệt theo quy định của pháp luật về đất đai, thuộc khu đất do Nhà nước đang quản lý, sử dụng mà sẽ được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Ban quản lý khu kinh tế giao đất, cho thuê đất cho nhà đầu tư được chấp thuận...”, theo quy định tại khoản 4 Điều 108 Nghị định 31/2021/NĐ-CP (sửa đổi bổ sung Điều 11 Nghị định số 25/2020/NĐ-CP của Chính phủ) thì việc lựa chọn chủ đầu tư, chấp thuận đầu tư, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư gặp vướng mắc; đặc biệt là các dự án nhà ở thương mại do nhà đầu tư chưa có 100% đất ở, chưa được chuyển mục đích sử dụng đất, trong khi theo Luật Đất đai thì thực hiện theo hình thức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án.
Kiến nghị, đề xuất: Đề nghị sửa đổi Luật Đất đai 2013 và Nghị định số 31/2021/NĐ-CP cho phù hợp.
5. Luật Đấu thầu 43/2013/QH13, Luật Nhà ở 65/2014/QH13, Luật Đất đai năm 2013 và văn bản hướng dẫn thi hành    
Theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở thì đối với trường hợp khu đất thực hiện dự án chưa được bồi thường, giải phóng mặt bằng, việc lựa chọn nhà đầu tư đối với dự án loại này là đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư. Để tiến hành lựa chọn nhà đầu tư thì theo quy định tại Điều 11 của Nghị định số 25/2020/NĐ-CP ngày 28/02/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư, thì một trong số các điều kiện là dự án phải nằm trong Danh mục dự án cần thu hồi đất đã được phê duyệt (được hiểu là các khu đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của Nhà nước hoặc sẽ được Nhà nước thu hồi, tức là thuộc danh mục dự án cần thu hồi đất đã được HĐND tỉnh thông qua). Tuy nhiên, khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án thì khu đất đó sẽ trở thành đất sạch và việc giao đất phải thực hiện qua cơ chế đấu giá theo quy định của Luật Đất đai. Như vậy, việc lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án có thể phải thực hiện qua hai hình thức lựa chọn (đầu thầu và đấu giá), dẫn đến trường hợp có nhà đầu tư trúng đấu thầu dự án (tức là được giao chủ đầu tư thực hiện dự án) có khi không trúng đấu giá, hiện tại thì chưa có văn bản hướng dẫn phương án giải quyết như thế nào. Do vậy, cần thiết nghiên cứu bổ sung việc lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án khu đô thị mới (và các dự án có sử dụng đất) qua hình thức đấu thầu vào Luật Đất đai để thống nhất với Luật Nhà ở, Luật Đấu thầu. Đối với dự án đầu tư xây dựng (ĐTXD) nhà ở: Theo quy định của pháp luật đất đai, chỉ đối với dự án khu đô thị mới, việc giải phóng mặt bằng (GPMB) được thực hiện qua cơ chế Nhà nước thu hồi đất. Đối với dự án ĐTXD nhà ở để bán hoặc cho thuê mua, việc giao cho thuê đất được thực hiện theo cơ chế đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 118 Luật Đất đai năm 2013 và theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 22 Luật Nhà ở 2014. Theo quy định tại khoản 1 Điều 119 Luật Đất đai năm 2013 thì một trong những điều kiện để đấu giá là đất đã được GPMB, mà để thực hiện được việc GPMB thì khu đất (hầu hết quỹ đất để thực hiện dự án phát triển nhà ở có nguồn gốc là đất nông nghiệp) phải được Nhà nước thu hồi đất. Điểm này là mâu thuẫn do tại Điều 62 Luật Đất đai, Nhà nước chỉ thu hồi đất đối với dự án khu đô thị mới.
Kiến nghị, đề xuất: Đề nghị nghiên cứu, quy định rõ về các đối tượng được Nhà nước thu hồi đất đối với dự án có tên gọi là dự án nhà ở (theo quy định của Luật Nhà ở, Nghị định 11/2013/NĐ-CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ về quản lý đầu tư phát triển đô thị thì dự án khu đô thị mới cũng là dự án nhà ở).
6. Nghị quyết số 60/2018/QH14 ngày 15/6/2018 của Quốc hội, Nghị quyết số 82/2019/QH14, 134/2020/QH14
Các Công ty nhà nước đã hoàn thành thực hiện việc cổ phần hóa từ thời điểm trước Nghị quyết số 60/2018/QH14, 82/2019/QH14,.. và đã thoái vốn Nhà nước 100%, đang thực hiện việc thuê đất của Nhà nước theo các hình thức trả tiền thuê đất hàng năm hoặc trả tiền thuê đất một lần, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, nay có nhu cầu xin chuyển mục đích sử dụng đất sang thực hiện các dự án nhà ở thương mại, các khu đô thị mới... theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 60/2018/QH14 ngày 15/6/2018 của Quốc hội thì các “trường hợp được cấp có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất khác với phương án đã được phê duyệt thì tổ chức thu hồi và đấu giá công khai theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên hiện nay, theo Nghị quyết số 134/2020/QH14 của Quốc hội thì Nghị quyết số 60/2018/QH14 ngày 15/6/2018 đã hết hiệu lực pháp luật, đồng thời các Nghị quyết số 82/2019/QH14, số 134/2020/QH14 cũng không hướng dẫn xử lý chuyển tiếp nội dung trên. Vì vậy, cần hướng dẫn, làm rõ việc chuyển mục đích sử dụng đất khác với phương án cổ phần hóa đã được phê duyệt thì có tổ chức thu hồi và đấu giá công khai hay thực hiện chuyển mục tiêu dự án theo Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, sau đó chuyển mục đích sử dụng đất theo Luật Đất đai. Luật Đầu tư và Luật Đất đai chưa quy định rõ trường hợp trên thực hiện việc chấp thuận chủ đầu tư, lựa chọn chủ đầu tư như thế nào khi dự án chưa được chuyển mục đích sử dụng đất, cũng như trình tự, thủ tục, điều kiện nào mới đảm bảo quy định pháp luật (do vậy không có mối liên quan giữa các thủ tục đầu tư, xây dựng, đô thị với đất đai khi chuyển mục tiêu dự án đầu tư, chuyển mục đích sử dụng đất).
Kiến nghị, đề xuất: Đề nghị có hướng dẫn, chỉ đạo làm rõ việc chuyển mục đích sử dụng đất khác với phương án cổ phần hóa đã được phê duyệt thì có tổ chức thu hồi và đấu giá công khai, hay thực hiện chuyển mục tiêu dự án theo Luật đầu tư, Luật Nhà ở, sau đó chuyển mục đích sử dụng đất theo Luật Đất đai.
7. Luật Đất đai năm 2013 và Luật Đấu thầu 43/2013/QH13
Luật Đất đai 2013 chỉ quy định các trường hợp phải áp dụng hoặc không áp dụng đấu giá quyền sử dụng đất (không quy định trường hợp phải đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư dự án sử dụng đất). Do đó, xảy ra vướng mắc tại khâu giao đất, cho thuê đất đối với dự án có sử dụng đất thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu thầu về đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư
Kiến nghị, đề xuất: Đề xuất quy định cụ thể về vấn đề nêu trên.
8. Nghị định số 67/2018/NĐ-CP, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP
Theo quy định của pháp luật bảo vệ môi trường thì có nhiều hoạt động phát sinh nước thải lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc đăng ký Kế hoạch bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, trong các quy định liên quan đến cấp phép xả nước thải (Nghị định số 67/2018/NĐ-CP, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP) thì trong thành phần hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép xả nước thải (Điều 33 Nghị định số 201/2013/NĐ-CP; Điều 23 Nghị định 67/2018/NĐ-CP) không có Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc Kế hoạch bảo vệ môi trường (thông thường việc lập hồ sơ cấp phép xả nước thải được thực hiện sau quá trình lập, phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường, xác nhận đăng ký Kế hoạch bảo vệ môi trường), cũng không có quy định ràng buộc hoặc áp dụng các quy định của pháp luật bảo vệ môi trường trong việc cấp phép, do vậy có thể xảy ra trường hợp nội dung của Giấy phép không thống nhất với nội dung Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc Kế hoạch bảo vệ môi trường được phê duyệt, xác nhận…
Kiến nghị, đề xuất: Đề nghị sửa đổi, bổ sung Nghị định số 67/2018/NĐ-CP, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP đảm bảo phù hợp, thống nhất với pháp luật bảo vệ môi trường.

Tác giả bài viết: Trung tâm Thông tin TN&MT (Khái lược)

Nguồn tin: UBND tỉnh Vĩnh Phúc

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

hệ thống xông hơi, massage sơn nhà, lăn sơn bả matit gia công cơ khí dong phuc Máy làm đá mini may lam da buffet hải sản nắp hố ga đầu cáp ngầm 24kv