08:50 ICT Thứ năm, 27/01/2022

Liên kết site

Video

Thành viên

Thống kê truy cập

váy đẹp Đang truy cập : 51

Máy chủ tìm kiếm : 18

Khách viếng thăm : 33


2 Hôm nay : 7328

thoi trang nu Tháng hiện tại : 499763

1 Tổng lượt truy cập : 24669959

Trang nhất » Tin Tức » Tin tức hoạt động

Sở Tài nguyên và Môi trường báo cáo đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị

Thứ sáu - 14/05/2021 12:31
Ngày 13/5/2021, Sở Tài nguyên và Môi trường đã có báo cáo 1297/STNMT-VP về kết quả tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị trong thời gian qua những nội dung liên quan lĩnh vực tài nguyên và môi trường

Về công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt; xây dựng và ban hành các nghị quyết, chương trình, kế hoạch hành động triển khai thực hiện Nghị quyết 50-NQ/TW, nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng về chủ trương, chính sách, pháp luật trong việc thu hút đầu tư, quản lý hoạt động khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài một bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, được khuyến khích, tạo điều kiện phát triển lâu dài, tạo dựng môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, từng bước tiếp cận với thông lệ quốc tế. Đảng ủy, Ban Giám đốc Sở đã đặc biệt quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường công tác phổ biến, quán triệt, triển khai thực hiện ngay các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực của ngành, nhất là Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030. Qua đó, tạo được sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thuộc Sở về tầm quan trọng của nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài, tạo lập môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh thuộc nhóm ASEAN 4 trước năm 2021, thuộc nhóm ASEAN 3 trước năm 2030 theo mục tiêu Nghị quyết.

          Đánh giá kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết về những nội dung liên quan đến lĩnh vực tài nguyên và môi trường

          Hoàn thiện thể chế chính sách đối với những nội dung còn vướng mắc trong thực hiện giao đất cho Nhà đầu tư có vốn đầu tư nước ngoài khi có nhu cầu thực hiện dự án đầu tư: Nội dung vướng mắc về cơ chế thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài tại Điều 62 và Điều 169 Luật Đất đai năm 2013. Hiện nay theo quy định của pháp luật Đất đai thì doanh nghiệp có vốn đầu tư ngước ngoài thực hiện các dự án thương mại, dịch vụ ngoài các khu, cụm công nghiệp không thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất (Điều 62 Luật đất đai) và cũng không thuộc trường hợp được phép thoả thuận nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Điều 169 Luật đất đai 2013. Vì vậy, UBND tỉnh Vĩnh Phúc không có cơ sở pháp lý thực hiện các thủ tục đất đai đối với các dự án thương mại, dịch vụ ngoài khu, cụm công nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài. Đề nghị sửa đổi Luật Đất đai 2013, đề nghị bổ sung quy định làm rõ cơ chế thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất và cho thuê đất đối với các dự án đầu tư có sử dụng vốn đầu tư nước ngoài để có căn cứ pháp lý hướng dẫn nhà đầu tư thực hiện các thủ tục về đất đai theo đúng quy định của pháp luật.

Hoàn thiện thể chế chính sách đối với những nội dung còn vướng mắc trong quá trình thu hồi, giao đất, cho thuê đất, cho thuê lại đất để thực hiện dự án khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Về giao cho thuê đất, theo quy định của tại Khoản 2, 3 Điều 149 Luật Đất đai 2013, việc sử dụng đất trong khu cụm, công nghiệp được thực hiện thông qua một trong hai hình thức là Nhà nước cho thuê đất đối với tổ chức kinh tế, người Việt Nam ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng khu, cụm công nghiệp.Thuê lại đất gắn với kết cấu hạ tầng của tổ chức kinh tế khác, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng. Như vậy, Luật Đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định trường hợp Nhà đầu tư thứ cấp trong khu, cụm công nghiệp được thuê đất trực tiếp với nhà nước. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, đối với một số khu vực đã được quy hoạch khu, cụm công nghiệp nhưng chưa lựa chọn được nhà đầu tư xây dựng, kinh doanh hạ tầng. Trong khi đó vì mục tiêu phát triển kinh tế, nhiều nhà đầu tư muốn tranh thủ thời điểm đầu tư kinh doanh nên có nhu cầu triển khai thực hiện dự án tại các khu vực được quy hoạch nói trên (được xác định là nhà đầu tư thứ cấp trong các khu, cụm công nghiệp), trong khi đó Luật Đất đai 2013 và các Văn bản hướng dẫn thi hành chưa có quy định trường hợp nhà đầu tư thứ cấp trong khu cụm, công nghiệp được thuê đất trực tiếp với UBND tỉnh, đây là một trong các nội dung cần được tháo gỡ, xây dựng cơ chế tiếp cận đất đai để đáp ứng nhu cầu và tranh thủ cơ hội đầu tư, tránh quy hoạch treo tại các khu cụm, công nghiệp.

Về việc tiếp tục cho thuê đất đối với trường hợp chủ đầu tư hạ tầng bị thu hồi đất: Pháp luật đất đai hiện hành chỉ quy định việc xử lý giữa các nhà đầu tư hạ tầng và nhà đầu tư thứ cấp thuê lại đất được thực hiện theo pháp luật dân sự. Tuy nhiên, trên thực tế, các nhà đầu tư thứ cấp thuê lại đất đã đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhà xưởng và vẫn đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại khu vực bị thu hồi đất thì chưa có cơ chế xử lý; chưa có quy định UBND tỉnh tiếp tục cho các nhà đầu tư này thuê đất hay xử lý chuyển tiếp, đây là nội dung cần được sửa đổi, bổ sung. Các nội dung còn vướng mắc nêu trên, Sở Tài nguyên và Môi trường đã báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường để tổng hợp đề nghị Quốc hội sửa đổi các Điều 118, 119 và Điều 149 Luật Đất đai 2013, bổ sung quy định về việc giao đất, cho thuê đất cho các nhà đầu tư thứ cấp trong khu cụm công nghiệp khi chưa có nhà đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp.

Kết quả giao đất cho các doanh nghiệp nước ngoài kể từ ngày 20/8/2019 đến nay do còn có những vướng mắc trong cơ chế giao đất cho doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài như báo cáo ở trên nên mặc dù một số doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh sử dụng đất ngoài khu cụm công nghiệp đã được giao đất theo pháp luật đất đai trước khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực thi hành nay có nhu cầu mở rộng cơ sở sản xuất kinh doanh cũng không có căn cứ để giao cho nhà đầu tư thực hiện, điều này đã làm giảm khả năng tiếp cận đất đai của các nhà đầu tư nước ngoài.

Tính từ ngày 20/8/2019 đến nay trên địa bàn toàn tỉnh giao đất được cho 04 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài  thuê đất trong khu cụm công nghiệp với diện tích giao cho nhà đầu tư thực hiện dự án là 127.439,4m2. Trong đó 01 doanh nghiệp được giao làm chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng cụm công nghiệp, 03 doanh nghiệp còn lại là các doanh nghiệp đã được UBND tỉnh giao đất để thực hiện dự án trong khu công nghiệp theo Luật Đất đai 2003 (giao đất trước khi có nhà đầu tư hạ tầng khu công nghiệp), nay chủ đầu tư thực hiện chuyển nhượng tài sản gắn liền với đất thuê trả tiền hàng năm cho doanh nghiệp khác. Do vậy, UBND tỉnh đã thu hồi và giao đất cho tổ chức nhận chuyển nhượng tiếp tục được thuê đất.

Việc quy định rõ trách nhiệm của nhà đầu tư về bảo vệ môi trường trong quá trình đầu tư, triển khai dự án và hoạt động của DN trong suốt thời gian thực hiện dự án, trách nhiệm của nhà đầu tư về bảo vệ môi trường trong quá trình đầu tư, triển khai dự án và hoạt động của doanh nghiệp trong suốt thời gian thực hiện dự án đã được quy định cụ thể trong Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản dưới luật. Do đó, Sở Tài nguyên và Môi trường không tham mưu ban hành các văn bản riêng đối với tỉnh Vĩnh Phúc.

Bên cạnh đó để thu hút, khuyến khích đầu tư Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các Sở ngành liên quan tham mưu tỉnh ban hành cơ chế hỗ trợ chi phí lập báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án thuộc lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư của tỉnh (Nghị quyết số 57/2016/NQ-HĐND ngày 12/12/2016 của HĐND tỉnh Vĩnh Phúc, Quyết định số 53/2017/QĐ-UBND ngày 22/12/2017 và Quyết định số 12/2019/QĐ-UBND ngày 26/02/2019 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc).

Đánh giá công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra gắn với nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương và người đứng đầu trong chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật liên quan đến đầu tư nước ngoài.

Qua công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật đất đai, bảo vệ môi trường, tài nguyên nước của các doanh nghiệp trện địa bàn tỉnh, trong đó có cả doanh nghiệp FDI, kết quả cho thấy: Cơ bản các doanh nghiệp FDI chấp hành nghiêm chỉnh các quy định pháp luật về đất đai, bảo vệ môi trường và tài nguyên nước. Các doanh nghiệp FDI đã đưa đất vào sử dụng theo quy định của pháp luật; đã xây dựng các công trình bảo vệ môi trường, đấu nối nước thải vào hệ thống thu gom xử lý nước thải tập trung của KCN, ký hợp đồng với đơn vị có chức năng để xử lý chất thải phát sinh,… Tuy nhiên cũng còn một số doanh nghiệp tồn tại vi phạm trong lĩnh vực môi trường, như: Nước thải sau hệ thống xử lý của doanh nghiệp trước khi đấu nối vào hệ thống thu gom, xử lý tập trung còn có thông số vượt quy chuẩn cho phép; chưa thu gom, lưu giữ chất thải nguy hại theo quy định,…

Đề xuất và kiến nghị với Bộ Chính trị, Ban Bí thư huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, góp phần hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, kiến nghị Bộ Chính trị xem xét ban hành Nghị quyết chuyên đề về bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.

Đề nghị Chính phủ sớm ban hành các nghị định hướng dẫn thực hiện Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 theo các nội dung đã được Luật để các địa phương có cơ sở triển khai thực hiện cùng thời điểm Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực.

Bộ Tài nguyên và Môi trường sớm hoàn thiện đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật đất đai; Sớm ban hành các Thông tư, văn bản hướng dẫn triển khai Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, tổ chức tập huấn, hướng dẫn tổ chức thực hiện cho các địa phương để các địa phương chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc tổ chức thực hiện Luật. Tham mưu, đề xuất Chính phủ chính sách hạn chế sử dụng túi nilon, nhất là các chính sách sử dụng công cụ kinh tế, đồng thời có chính sách khuyến khích sản xuất, sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường; đề xuất chính sách hạn chế nhập khẩu phế liệu nhựa làm nguyên liệu sản xuất, tiến tới cấm hoàn toàn nhập khẩu loại này. Xây dựng và đưa vào hoạt động phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu về tài nguyên và môi trường để các địa phương khai thác, sử dụng và thực hiện các chế độ báo cáo, khắc phục tình trạng phải báo cáo quá nhiều như hiện nay. Đề nghị Bộ Xây dựng nghiên cứu điều chỉnh khoảng cách an toàn môi trường (ATMT) của trạm trung chuyển chất thải rắn, cơ sở xử lý chất thải rắn (CTR). Vì với quy định của QCVN 01:2019/BXD, rất khó để lựa chọn được khoảng cách an toàn phù hợp trong điều kiện các địa phương có diện tích đất nhỏ hẹp như tỉnh Vĩnh Phúc. Bên cạnh đó, nhiều dự án xử lý chất thải rắn có công nghệ tiên tiến, việc ảnh hưởng đến môi trường đã được cải thiện đáng kể. Do vậy, đề nghị Bộ Xây dựng xem xét sửa đổi QCVN 01:2019/BXD - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng (ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BXD ngày 31/12/2019) theo hướng giảm khoảng cách ATMT của trạm trung chuyển chất thải rắn, cơ sở xử lý CTR. Hiện nay, có nhiều dự án xử lý chất thải rắn sinh hoạt có công nghệ hiện đại, do đó, yêu cầu về đơn giá xử lý cao hơn so với khung mức chi phí xử lý chất thải rắn đã ban hành kèm theo Quyết định số 1354/QĐ-BXD ngày 29 tháng 12 năm 2017 về công bố suất vốn đầu tư xây dựng và mức chi phí xử lý chất thải rắn sinh hoạt. Do đó, đề nghị Bộ Xây dựng điều chỉnh mức chi phí xử lý chất thải rắn sinh hoạt theo hướng mở để các địa phương chủ động đánh giá, và đề xuất cho phù hợp với từng dự án.

Tác giả bài viết: Sở TN&MT Vĩnh Phúc

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

hệ thống xông hơi, massage sơn nhà, lăn sơn bả matit gia công cơ khí dong phuc Máy làm đá mini may lam da buffet hải sản nắp hố ga đầu cáp ngầm 24kv