04:53 ICT Thứ ba, 23/01/2018

Liên kết site

Video

Thành viên

Thống kê truy cập

thoi trang han quoc Đang truy cập : 32

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 31


2 Hôm nay : 990

ao khoac nu Tháng hiện tại : 174031

1 Tổng lượt truy cập : 8900512

Trang nhất » Tin Tức » Tin tức hoạt động

Sở Tài nguyên và Môi trường báo cáo các nội dung chất vấn tại phiên họp Thường trực HĐND tỉnh

Thứ năm - 29/06/2017 09:18
Thực hiện nhiệm vụ do UBND tỉnh giao tại Văn bản số 3564/UBND-NN2 ngày 19/5/2017 về giao nhiệm vụ chuẩn bị nội dung trả lời chất vấn tại phiên họp Thường trực HĐND tỉnh, ngày 23/5/2017, Sở Tài nguyên và Môi trường có báo cáo số 192/BC-STNMT báo cáo các nội dung chất vấn tại mục 2, phần II Kế hoạch số 17/KH-HĐND của HĐND tỉnh như sau:
A. VIỆC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN CHO TẬP THỂ VÀ CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
I. Tình hình chung
Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nay là Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được thực hiện từ năm 1988 theo khoản 5 Điều 9, khoản 3 Điều 18 Luật Đất đai năm 1987 và Điều 13 Nghị định số 30-HĐBT ngày 23/3/1989 của Hội đồng Bộ trưởng, đặc biệt là sau khi có Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực từ ngày 15/10/1993. Trong thời gian vừa qua, nhất là giai đoạn từ khi có Luật đất đai năm 2013 và thành lập Văn phòng đăng ký đất đai một cấp thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, công tác cấp Giấy chứng nhận trên địa bàn tỉnh đã đạt được một số kết quả nhất định, tăng cả về số lượng, chất lượng và giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính. Đến nay toàn tỉnh, hiện nay đã cấp tổng số 442.307 Giấy chứng nhận cấp lần đầu cho các loại đất, đạt tỷ lệ trung bình 90,08% về diện tích. Các loại đất chính theo chỉ tiêu của Bộ Tài nguyên và Môi trường đều đạt từ trên 85% diện tích đảm bảo yêu cầu theo Nghị quyết số 30/2012/QH13 ngày 21/6/2012 của Quốc Hội; Chỉ thị số 1474/CT-TTg ngày 24/8/2011, Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 04/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ và Kế hoạch số 2349/KH-UBND ngày 17/6/2009 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc đẩy mạnh công tác cấp giấy chứng nhận, lập hồ sơ địa chính trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Từ năm 2013 và sau khi thành lập Văn phòng đăng ký đất đai một cấp theo Quyết định số 46/2014/QĐ-UBND ngày 20/10/2014 của UBND tỉnh, thực hiện trình tự, thủ tục và thẩm quyền cấp GCN mới theo Luật Đất đai 2013 đến hết năm 2016, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiếp nhận tổng số hồ sơ cấp Giấy chứng nhận và trình cấp Giấy chứng nhận cho 1.643 hồ sơ với 6461 Giấy chứng nhận cho các tổ chức sử dụng đất và 79.804 Giấy chứng nhận với tổng diện tích cấp là 3.392,28 ha cho các hộ gia đình, cá nhân.
Hiện nay, theo thống kê của Sở TNMT (số liệu đến hết năm 2016), tổng số các trường hợp chưa được cấp GCN lần đầu đối với hộ gia đình, cá nhân còn tồn đọng trên địa bàn tỉnh khoảng trên 20 nghìn trường hợp (20.057) với diện tích khoảng 5.986,3 ha; trong đó, tập trung vào đất nông nghiệp (11.132 trường hợp) và đất ở (7.114 trường hợp), còn lại là đất chuyên dùng, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản,..; trong số các tồn đọng trên, riêng các trường hợp có vi phạm pháp luật về đất đai khoảng trên 12 nghìn trường hợp, còn lại là các vướng mắc khác. Đối với các tổ chức, toàn tỉnh hiện còn 2.722,40 ha chưa được cấp GCN, trong đó, chủ yếu là đất Lâm nghiệp (1.420,69 ha), đất Quốc phòng, an ninh (436,35 ha) và đất có mục đích công cộng (242,91 ha) và một số loại đất khác như đất phi NN khác, đất tôn giáo, tín ngưỡng,...
1. Kết quả thực hiện cụ thể từ khi có Luật đất đai năm 2013 đến hết năm 2016 như sau:
a.  Kết quả công tác cấp Giấy chứng nhận cho tổ chức:
Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiếp nhận tổng số hồ sơ cấp Giấy chứng nhận và trình lãnh đạo phê duyệt cấp Giấy chứng nhận cho 1.643 hồ sơ với 6.461 giấy chứng nhận cho các tổ chức sử dụng đất, trong đó:
+ Cấp lần đầu là 1.358 hồ sơ với 4.117 giấy chứng nhận;
+ Cấp mới do người sử dụng đất thực hiện các quyền là: 327 hồ sơ với 831 giấy chứng nhận;
+ Cấp đổi là 29 hồ sơ với 126 giấy chứng nhận.
b. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Giấy chứng nhận) cho hộ gia đình, cá nhân:
Tổng số Giấy chứng nhận đã cấp từ năm 2013 đến hết năm 2016 là 79.804 giấy với tổng diện tích cấp là 3.392,28 ha.
2. Đánh giá tình hình
* Thuận lợi:
- Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã xử lý, giải quyết các tồn  có nhiều thay đổi so với các quy định của Luật đất đai năm 1993, năm 2003, quy định rõ ràng hơn về hạn mức sử dụng đất, về các trường hợp được cấp Giấy chứng nhận, không cấp Giấy chứng nhận.  Quy trình thủ tục, thời gian giải quyết thủ tục hành trong lĩnh vực đất đai đã được công khai, niêm yết, nội dung, thành phần hồ sơ yêu cầu rõ ràng. Do vậy,  đã tạo điều kiện cho người sử dụng đất dễ tiếp cận, dễ thực hiện, giảm bớt được sách nhiễu, phiền hà của một số bộ phận cán bộ công chức viên chức, nâng cao chỉ số hài lòng của người dân trong thực hiện thủ tục hành chính.
Sau khi thành lập Văn phòng Đăng ký đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công tác kê khai đăng ký, cấp Giấy chứng nhận, cập nhật chỉnh lý biến động được thực hiện thống nhất trong toàn tỉnh. Mặc dù chưa có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, đầy đủ và chu đáo về con người, cơ sở vật chất, trang thiết bị, trụ sở làm việc và cơ chế hoạt động song kết quả thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được giao là rất tích cực, nhiều hồ sơ trước đây khó giải quyết hoặc không được xử lý thì nay được giải quyết, xử lý triệt để theo đúng quy định của pháp luật; tổng số lượng Giấy chứng nhận đã cấp được bình quân 22.704 giấy chứng nhận/năm, tăng so với bình quân một số năm gần nhất trước đây là: 2753 GCN/năm. Đặc biệt là công tác cấp Giấy chứng nhận lần đầu đối với một số trường hợp phức tạp, Văn phòng Đăng ký đất đai đã phối hợp với UBND cấp xã, UBND cấp huyện để giải quyết triệt để. Kể từ khi thành lập Văn phòng Đăng ký đất đai, công tác cập nhật chỉnh lý hồ sơ địa chính cũng được quan tâm trú trọng, tất các thửa đất được cấp giấy chứng nhận (kể cả cấp lần đầu, cấp do người sử dụng đất thực hiện các quyền) đều được cập nhật chỉnh lý biến động trên bản đồ địa chính và hồ sơ địa chính, là cơ sở để thực hiện xây dựng hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai thống nhất trong toàn tỉnh.
* Khó khăn:
- Đối với cấp lần đầu, chủ yếu các trường hợp còn tồn tại là do tranh chấp, lấn chiếm, giao trái thẩm quyền mà người sử dụng đất đã thực hiện nghĩa vụ tài chính nhưng không còn giấy tờ nộp tiền, không chứng minh được đã thực hiện nghĩa vụ tài chính, khó khăn vướng mắc về cơ chế chính sách.
- Đối với công tác cấp đổi Giấy chứng nhận theo bản đồ địa chính mới đo vẽ rất chậm, đạt kết quả thấp là do trong quá trình thực hiện đòi hỏi phải xử lý những vấn đề tồn tại trong việc công nhận hạn mức, chênh lệch diện tích giữa các lần đo đạc và những vướng mắc từ quá khứ, những sai phạm của các cấp quản lý, nhất là xác nhận thời điểm sử dụng đất còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng.
- Luật Đất đai năm 2013 vẫn còn một số nội dung quy định chưa rõ ràng khó thực hiện như: chưa quy định xử lý, giải quyết cụ thể đối với những trường hợp lấn, chiếm quỹ đất công ích do UBND cấp xã quản lý, sử dụng từ trước ngày 01/7/2014; Việc xác định lại đất ở và đất vườn trong cùng một thửa đất theo Điều 103 Luật Đất đai và Điều 24 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP; những trường hợp công nhận quyền sử dụng đất, theo Luật Đất đai không cần ban hành Quyết định công nhận quyền sử  dụng đất nhưng theo Nghị định 45/2014/NĐ- CP của Chính phủ quy định giá đất tính tiền sử dụng đất là giá đất tại thời điểm có quyết định công nhận quyền sử dụng đất…những nội dung này phần nào đã ảnh hưởng đến khối lượng cấp Giấy chứng nhận trên địa bàn tỉnh.
3. Phương hướng giải pháp trong thời gian tới
- Về các giải pháp trước mắt:
+ Rà soát lại toàn bộ các hồ sơ đang còn tồn đọng ở 3 cấp xã, Chi nhánh VPĐK, Phòng TNMT và VPĐK tỉnh - Sở TNMT để phân loại các nhóm vướng mắc: về cơ chế, về sự phối hợp các cấp, về phía người sử dụng đất (nghĩa vụ tài chính, thừa kế, tranh chấp,..) để quy trách nhiệm giải quyết triệt để;
+ Rà soát lại toàn bộ các trường hợp chưa được cấp GCN lần đầu kể cả tổ chức và các hộ gia đình, cá nhân để phân loại các loại vướng mắc và đưa ra biện pháp xử lý;
(Thực tế, nội dung này các đơn vị xã, huyện chưa thực hiện nghiêm túc, Sở đã có văn bản đề nghị tổng hợp nhưng một số đơn vị thực hiện chậm, báo cáo chưa đầy đủ, chưa đúng số liệu)
+ Thống kê toàn bộ các vướng mắc về cơ chế, chính sách để trình UBND tỉnh tháo gỡ hoặc xin ý kiến hướng dẫn của cơ quan chuyên ngành cấp trên.
- Về các giải pháp lâu dài có tính định hướng:
+ Tăng cường cải cách TTHC, tập trung vào thủ tục cấp GCN, đảm bảo thông thoáng, nhanh gọn, tạo mọi điều kiện cho người sử dụng đất. Nội dung này, Sở TNMT đã có nhiều văn bản chỉ đạo, thành lập Tổ xử lý, kiểm tra, đôn đốc. Tuy nhiên, phải khẳng định rằng hiệu quả chưa thực sự cao, chưa triệt để do: các đơn vị có chức năng chưa thực hiện hết trách nhiệm của mình, cấp xã không tiến hành giải quyết nội dung cấp xã; Văn phòng ĐK nhiều nơi chưa tích cực kiểm tra, phối hợp, đôn đốc triệt để; phòng TNMT và UBND cấp huyện nhiều nơi còn để chậm ký duyệt hồ sơ (Phúc Yên);..
+ Đối với các trường hợp vướng mắc liên quan đến vi phạm chính sách pháp luật về đất đai (lấn, chiếm, giao trái thẩm quyền, chuyển mục đích trái phép, thu tiền nhưng chưa có đất để giao,..) UBND các huyện, thành, thị chủ động xây dựng kế hoạch xử lý dứt điểm theo từng nhóm đúng chỉ đạo của UBND tỉnh tại Kế hoạch số 8988/KH-UBND ngày 13/12/2016 về triển khai thực hiện Quyết định số 1675/QĐ-TTg ngày 29/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án tăng cường xử lý vi phạm về quản lý, sử dụng đất đai giai đoạn đến 2020. Dựa trên kết quả xử lý để có căn cứ cấp GCN lần đầu triệt để, giải quyết dứt điểm.
+ Tiếp tục tăng cường tập huấn, đào tạo, nâng cao nghiệp vụ trong công tác cấp GCN và có trú trọng đến việc giáo dục ý thức, thái độ, tinh thần phục vụ, trách nhiệm công tác của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động; xử lý nghiêm các trường hợp phát hiện có vi phạm;
+ Tăng cường khả năng phối hợp, xử lý của UBND cấp xã, UBND cấp huyện đối với các chức năng, nhiệm vụ đã quy định trong Quy chế phối hợp các cấp (Quyết định số 39/QĐ-UBND...);
4. Một số kiến nghị các cấp
*/ Đối với HĐND, UBND tỉnh
a) Quan tâm đầu tư thích đáng về biên chế, con người, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, trụ sở làm việc, hạ tầng công nghệ thông tin cho VPĐK đất đai để hoàn thành nhiệm vụ theo yêu cầu của nhà nước và của nhân dân: về biên chế; về trang thiết bị và Trụ sở làm việc các Chi nhánh VPĐK đất đai cấp huyện;..
b) Về cơ chế tài chính: Ngoài phần đầu tư của nhà nước chi thường xuyên để ổn định hoạt động của VPĐK đất đai thì:
- Đưa các nhiệm vụ thường xuyên như: Trích đo địa chính, biên tập xử lý bản đồ địa chính thửa đất, cấp Giấy chứng nhận, Đăng ký biến động, cập nhật chỉnh lý Hồ sơ địa chính, chuyển đổi, chuyển nhượng … vào kế hoạch đặt hàng, giao đầu năm để VPĐK đất đai chủ động thực hiện nhiệm vụ theo trình tự, thủ tục hành chính sau đó kiểm tra, nghiệm thu và thanh toán theo sản phẩm quy định;
- Cho phép Sở Tài nguyên và Môi trường làm quy trình, đơn giá dịch vụ cho những trường hợp không tự hoàn thiện được hồ sơ đầu vào để nộp tại bộ phận tiếp nhận và giải quyết theo đúng quy định của pháp luật. Việc thực hiện dịch vụ phải có thỏa thuận hợp đồng, công khai, minh bạch đơn giá, mức thu cho từng nội dung dịch vụ, có hóa đơn chứng từ thu, nộp và đống thuế nhà nước theo quy định,... để tránh việc người dân phải đi lại nhiều lần, thuê các tổ chức tư vấn, luật sư.
*/ Đối với UBND cấp huyện, cấp xã:
- Phối hợp với VPĐK đất đai thực hiện đầy đủ trách nhiệm, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật đất đai nêu trong các Điều 70 đến 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP. Xác nhận vào đơn đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đảm bảo đúng, chính xác về thời điểm sử dụng đất, nguồn gốc sử dụng đất, mục đích sử dụng đất, quy hoạch sử dụng đất, tình trạng tranh chấp, lấn chiếm …để xem xét, xử lý, giải quyết theo quy định của pháp luật;
- Phối hợp với Chi nhánh VPĐK đất đai thực hiện kiểm tra, xác minh, cung cấp hồ sơ, thông tin liên quan đến thửa đất, đề xuất xử lý, thực hiện tuyên truyền, niêm yết công khai theo quy định của pháp luật;
- UBND cấp huyện thực hiện việc thẩm tra, kiểm tra, thanh tra hồ sơ và trình UBND cấp huyện ký Giấy chứng nhận lần đầu theo thẩm quyền quy định tại Điều 105 Luật Đất đai, Điều 37 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP; Đặc biệt đối với những Giấy chứng nhận trước đây đã cấp trái quy định của pháp luật phải thu hồi thì chỉ đạo Thanh tra cấp huyện thanh tra, kết luận cụ thể để thu hồi theo Điều 106 Luật Đất đai, Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP;
B. VỀ XỬ LÝ VI PHẠM LUẬT ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
Đối với nội dung này Sở Tài nguyên và Môi trường đã có Văn bản số 281/BC-STNMT ngày 14/10/2016 và Văn bản số 1096/STNMT-TTr ngày 19/5/2017, cụ thể:
1. Đối với các trường hợp lấn, chiếm, chuyển mục đích trái phép trên địa bàn tỉnh.
Tính đến hết tháng 8/2016 trên địa bàn tỉnh có 15.664 trường hợp vi phạm về đất đai (lấn, chiếm, sử dụng đất sai mục đích), diện tích 847,80 ha. Tình trạng vi phạm xảy ra đối với 09/09 huyện, thành, thị và 122/137 xã, Phường, thị trấn, chiếm 89 %. Trong đó được chia ra trước thời điểm 01/7/2014 và sau thời điểm 01/7/2014:
* Thời điểm từ ngày 01/7/2014 trở về trước.
- Lấn đất: Có 3.264 trường hợp, diện tích 44,53ha (kết quả tổng hợp tại biểu số 01).
- Chiếm đất: Có 790 trường hợp, diện tích 17,62 ha (kết quả tổng hợp tại biểu số 02).
- Chuyển mục đích sử dụng đất trái phép: Có 10.390 trường hợp, diện tích 752,66 ha (kết quả tổng hợp tại biểu số 03).
* Thời điểm từ sau ngày 01/7/2014.
- Lấn đất: Có 228 trường hợp, diện tích 4,15 ha (kết quả tổng hợp tại biểu số 04).
- Chiếm đất: Có 172 trường hợp, diện tích 2,11 ha (kết quả tổng hợp tại biểu số 05).
- Chuyển mục đích sử dụng đất trái phép: Có 820 trường hợp, diện tích 26,72 ha (kết quả tổng hợp tại biểu số 06).
* Kết quả đã xử lý: Tính đến hết tháng 8/2016, toàn tỉnh đã tiến hành kiểm tra và lập hồ sơ để xử lý được 10.365 trường hợp, cụ thể như sau:
- Xử phạt vi phạm hành chính đối với 2.164 trường hợp, diện tích 57,47 ha;
- Vận động tháo dỡ được 3.320 trường hợp, diện tích 84,65 ha;
- Tổ chức cưỡng chế tháo dỡ công trình vi phạm đối với 643 trường hợp, diện tích 9,99 ha.
- Rà soát đủ điều kiện công nhận QSD đất theo Điều 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP đối với 4.238 trường hợp, diện tích 299,81 ha.
* Thẩm quyền giải quyết
Theo quy định tại Điều 143 Luật Đất đai 2003 và Điều 208 luật Đất đai 2013:
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời những vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai tại địa phương.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời việc chuyển quyền sử dụng đất trái phép, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép; phát hiện, áp dụng biện pháp ngăn chặn và xử lý kịp thời việc xây dựng các công trình trên đất lấn, chiếm, đất sử dụng không đúng mục đích ở địa phương và buộc người có hành vi vi phạm khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm”.
* Biện pháp giải quyết và xử lý
Ngày 13/12/2016, UBND tỉnh đã Ban hành Kế hoạch số 8988/KH-UBND triển khai thực hiện Quyết định số 1675/QĐ-TTg ngày 29/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án tăng cường xử lý vi phạm về quản lý, sử dụng đất đai đến năm 2020. Để tiếp tục giiar quyết dứt điểm tình trạng lấn, chiếm đất, sử dụng đất không đúng mục đích vi phạm pháp luật đất đai trên địa bàn tỉnh; Sở TN&MT đề nghị UBND tỉnh:
+ Giao Sở Xây dựng chủ động có văn bản hướng dẫn UBND các huyện, thành phố, thị xã về lập quy hoạch, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 để làm căn cứ cho việc xét công nhận QSDĐ cho các hộ dân đã và đang sử dụng ở các xã, phường, thị trấn có vi phạm, nhưng phù hợp với định hướng quy hoạch đã duyệt. Trường hợp các hộ dân vi phạm về sử dụng đất mà đất đó đã được duyệt quy hoạch vào mục đích khác hoặc vào vùng cấm đã công bố (không thể điều chỉnh, thay đổi được) thì hướng dẫn UBND cấp huyện và xã lập quy hoạch để giữ nguyên hiện trạng hoặc di chuyển các hộ dân vi phạm theo kế hoạch hàng năm và giai đoạn.
+ Giao Cục thuế tỉnh, sở Tài chính có văn bản hướng dẫn UBND các huyện, thành phố, thị xã xác định nghĩa vụ tài chính cụ thể cho các hộ dân phải nộp tiền sử dụng đất vào ngân sách nhà nước (theo giai đoạn và vị trí đất) khi các hộ dân sử dụng đất có vi phạm, được Nhà nước hợp thức, Công nhận quyền SDĐ và cấp GCNQSDĐ.
+ Đối với các hộ dân sử dụng đất có vi phạm buộc phải tháo rỡ công trình xây dựng trên đất để trả lại đất cho Nhà nước; kính đề nghị UBND tỉnh Giao sở Tư pháp, Công an tỉnh, sở Xây dựng hướng dẫn các UBND huyện, thành phố, thị xã hoàn thiện hồ sơ, trình tự, thủ tục để tiến hành một cuộc cưỡng chế tháo rỡ các công trình xây dựng trái phép trên đất theo quy định của pháp luật (khi các hộ dân cố tình vi phạm và không chấp hành).
+ Sở TN&MT có trách nhiệm chủ động phối hợp với UBND các huyện, Thành phố, thị xã để kiểm tra, đôn đốc và hướng dẫn xử lý các trường hợp vi phạm đất đai cụ thể theo chức năng quản lý Nhà nước của ngành theo quy định của pháp luật. Tổng hợp đề xuất các giải pháp cụ thể với Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh theo quy định nhằm khắc phục các tồn tại và vi phạm trong quản lý và sử dụng đất thời gian qua.
2. Xử lý các trường hợp nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nhưng đến nay chưa triển khai thực hiện hoặc chậm tiến độ.
* Kết quả rà soát:
Tính đến thời điểm hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh có 150 dự án được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất với tổng diện tích là 2.603.909,1m2 nhưng đến nay chưa triển khai thực hiện hoặc đã triển khai thực hiện nhưng chậm tiến độ. Riêng thị trấn Tam Đảo có 96 dự án, với tổng diện tích 39.415m2. Còn lại các địa phương khác có 54 dự án, với diện tích 2.564.494,1m2 (có biểu rà soát kèm theo)
* Biện pháp xử lý
Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tránh lãng phí đất đai và đảm bảo quá trình sử dụng đất của các dự án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, đặc biệt đối với các dự án đã được giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nhưng đến nay chưa triển khai thực hiện hoặc việc triển khai chậm tiến độ. Trong thời gian tới Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ tập trung chỉ đạo và phối hợp với các ngành liên quan tiến hành thanh, kiểm tra làm rõ các sai phạm trong việc sử dụng đất của chủ đầu tư để kịp thời đề xuất biện pháp xử lý, kiến nghị UBND tỉnh kiên quyết thu hồi, chấm dứt thực hiện dự án theo Luật đất đai 2013, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 64: “Trường hợp đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng”.
C. VỀ QUẢN LÝ, KHAI THÁC CÁT SỎI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
I. Tình hình chung:
Tỉnh Vĩnh Phúc có 03 tuyến sông chính chảy qua là Sông Hồng, sông Lô, sông Phó Đáy với tổng chiều dài khoảng 105 km (trong đó Sông Lô khoảng 34 km, sông Hồng khoảng 30 km và Sông Phó Đáy khoảng 41,5 km - nguồn Cổng TTGT điện tử tỉnh Vĩnh Phúc). Trên các tuyến sông có nguồn tài nguyên cát, sỏi làm vật liệu xây dựng thông thường.
Trong những năm 2012 trở về trước, tình hình ANTT liên quan đến việc khai thác cát trên các tuyến sông diễn ra hết sức phức tạp. Nguyên nhân do cát sỏi là nguồn vật liệu xây dựng quan trọng cung cấp cho hầu hết các tỉnh miền bắc (Hà Nội, Nam Định, Hà Nam, Thái Bình, Quảng Ninh, Hải Phòng...). Do thị trường tiêu thụ rộng, nhu cầu lớn, vì vây khai thác cát sỏi trái phép trên các Sông diễn ra thường xuyên. Các đơn vị, tổ chức, cá nhân khai thác trái phép tranh giành vị trí bãi khai thác gây mất trật tự an ninh trên địa bàn
Việc khai thác trái phép cát, sỏi trên sông đã làm thất thoát tài nguyên, tác động xấu đến môi trường, trật tự an toàn giao thông, đê điều, gây thất thu ngân sách, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự.
Để chấn chỉnh tình trạng đó, từ năm 2013, để giải quyết dứt điểm tình trạng khai thác cát, sỏi trái phép, tranh giành địa điểm khai thác, gây rối mất trật tự an ninh khu vực UBND tỉnh đã giao Sở Xây dựng rà soát để quy hoạch các khu vực có trữ lượng cát, sỏi trên cơ sở đó tham mưu cho UBND tỉnh cấp phép cho các doanh nghiệp nhằm mục đích quản lý có đầu mối, tận thu ngân sách cho tỉnh, có đơn vị chịu trách nhiệm và kịp thời thông tin những vi phạm, về tình hình trật tự trên sông cho cơ quan chức năng, bảo vệ đê, kè. Bên cạnh đó, cương quyết xử lý nghiêm những đơn vị được cấp phép vi phạm các quy định của nhà nước...
1. Công tác ban hành các văn bản quản lý cát, sỏi:
Để tăng cường công tác quản lý hoạt động thăm dò, khai thác cát, sỏi trên địa bàn tỉnh, UBND tỉnh đã tập trung quán triệt, chỉ đạo các cấp, ngành thực hiện tốt Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 30/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường hiệu lực thực thi chính sách pháp luật về khoáng sản. Từ năm 2013 UBND tỉnh ban hành một số văn bản như:
- Chỉ thị số 03/CT-UBND ngày 14/03/2013 về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh;
- Quyết định số 07/2013/QĐ-UBND ngày 14/3/2013 ban hành Quy định về trách nhiệm, quan hệ phối hợp giữa các ngành, các cấp, các tổ chức, cá nhân trong việc quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc;
- Chỉ thị số 11/CT-UBND ngày 08/9/2015 về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động khai thác cát sỏi trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
- Văn bản số 5610/UBND-NN5 ngày 18/8/2016 về việc tạm dừng gia hạn giấy phép khai thác cát, sỏi và cấp giấy phép khai thác cát, sỏi, đá trên địa bàn tỉnh và các văn bản khác để chỉ đạo các ngành chức năng và UBND các huyện, thành phố, thị xã trong việc kiểm tra, xử lý, ngăn chặn các hoạt động khoáng sản trái phép.
- Văn bản số 6619/UBND-NN5 ngày 22/9/2016 về việc  triển khai thực hiện Thông báo số 417-TB/TU ngày 31/8/2016 của BTV Tỉnh uỷ về công tác quản lý các hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh.
2. Công tác quy hoạch thăm dò và khai thác cát, sỏi:
Để quản lý chặt chẽ và có hiệu quả tài nguyên khoáng sản, UBND tỉnh đã chú trọng công tác lập và phê duyệt quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản cát, sỏi trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Năm 2013, UBND tỉnh đã có Quyết định 156/QĐ-UBND ngày 22/01/2013 về việc phê duyệt quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng tài nguyên cát, sỏi trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Sau đó UBND tỉnh tiếp tục rà soát, phê duyệt bổ sung và khoanh định các điểm mỏ thăm dò, khai thác cát, sỏi (không đấu giá) vào Quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng tài nguyên cát, sỏi trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nhằm từng bước khép kín quy hoạch để quản lý có hiệu quả tài nguyên cát, sỏi.
3. Công tác cấp giấy phép thăm dò, khai thác cát, sỏi:
3.1. Giấy phép khai thác cát sỏi do UBND tỉnh cấp:
Trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt, UBND tỉnh cấp giấy phép khai thác phần diện tích đã phê duyệt quy hoạch nhằm tăng cường vai trò tự quản lý của các đơn vị được cấp giấy phép, hạn chế tối đa hoạt động khai thác trộm, khai thác không có giấy phép (khai thác trái phép).
Việc tổ chức thẩm định, cấp giấy phép hoạt động khai thác khoáng sản cát, sỏi được thực hiện theo trình tự, thủ tục, đảm bảo thực hiện theo đúng quy định của pháp luật khoáng sản và các quy định có liên quan như: Đúng quy hoạch được phê duyệt cấp giấy phép thăm dò; phê duyệt trữ lượng; đánh giá tác động môi trường và phương án cải tạo, phục hồi môi trường; phê duyệt giá trị tiền cấp quyền và nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo quy định; cấp giấy phép khai thác... Tính đến tháng 8/2016, UBND tỉnh đã cấp tổng số 23 Giấy phép khai thác cát sỏi cho 18 đơn vị trên địa bàn.
Thực hiện Thông báo số 417-TB/TU ngày 31/8/2016 của BTV Tỉnh uỷ về công tác quản lý các hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh UBND tỉnh, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp, ngành triển khai thực hiện tại văn bản số 6619/UBND-NN5 ngày 22/9/2016. Thực hiện tạm dừng toàn bộ quy hoạch bổ sung, cấp giấy phép thăm dò, giấy phép khai thác mới, gia hạn giấy phép khai thác đối với cát sỏi trên địa bàn tỉnh. Đến thời điểm hiện nay đã giảm 04 giấy phép khai thác so với trước đây. Hiện tại còn 19 giấy phép khai thác còn hiệu lực.
Hiện tại giấy phép thăm dò, khai thác cát, sỏi trên địa bàn tỉnh cụ thể như sau:
a) Trên tuyến Sông Lô
- Giấy phép khai thác đang còn hiệu lực: 11 giấy phép của 06 doanh nghiệp với tổng diện tích cấp phép khai thác là 177,576 ha và trữ lượng đã cấp là 4.885.683,2 m3 .
b) Trên tuyến sông Hồng
- Giấy phép khai thác đang còn hiệu lực: Đã cấp tổng số 08 Giấy phép cho 07 đơn vị với tổng diện tích cấp phép khai thác là 194,032 ha và trữ lượng cấp là 6.751.704 m3.
c)  Trên tuyến sông Phó Đáy
Hiện nay, chưa thực hiện cấp giấy phép khai thác và mới chỉ cấp 02 Giấy phép thăm dò 02 đơn vị (Công ty TNHH Xây dựng Phát triền Hạ tầng Vân Hội; Công ty TNHH Thương mại và Xây dựng Hải Hưng) với tổng diện tích thăm dò là 73,92ha và đã phê duyệt trữ lượng khoáng sản.
3.2. Đối với việc triển khai các dự án nạo vét luồng đường thuỷ nội địa do Cục Đường thuỷ Nội địa phê duyệt:
a) Trên tuyến sông Lô:
Có 05 dự án nạo vét, duy tu luồng đường thuỷ nội địa kết hợp tận thu sản phẩm đã được Cục Đường thủy nội địa Việt nam phê duyệt và đang giao 04 đơn vị thi công thực hiện. Như vậy, trên toàn bộ chiều dài tuyến Sông Lô thuộc địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã có các dự án nạo vét, duy tu luồng đường thuỷ nội địa đang triển khai thi công thực hiện.
Hiện nay Cục đường thủy nội địa đã có văn bản tạm dừng thi công các dự án nạo vét luồng đường thủy trên Sông Lô.
b) Trên tuyến sông Hồng:
Đến thời điểm này, UBND tỉnh đã nhận được 01 hồ sơ do Cục đường thủy nội địa đồng ý Dự án đăng ký nạo vét của Công ty Cổ phần đầu tư Xây dựng Công nghiệp HTH, tuy nhiên chưa triển khai thực hiện.
4. Việc thực hiện nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản
Thực hiện Nghị định số 203/2013/NĐ-CP ngày 28/11/2013 của Chính phủ quy định về mức thu, phương pháp tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn đến 100% các đơn vị thuộc đối tượng phải nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản (Các đơn vị đã được cấp Giấy phép khai thác khoáng sản và Các đơn vị thực hiện dự án nạo vét luồng đường thuỷ có tận thu sản phẩm đã triển khai thực hiện).
Đến thời điểm hiện nay đã có 100% tổng số Giấy phép khai thác cát, sỏi (bao gồm cả một số giấy phép hết hạn) của các đơn vị lập hồ sơ tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, đã được UBND tỉnh Quyết định phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; Tổng số tiền cấp quyền khai thác khoảng sản cát sỏi UBND tỉnh đã phê duyệt là 27.163.515.156 đồng, trong đó: trên tuyến Sông Lô là 14.816.329.370 đồng và tuyến Sông Hồng là 12.347.185.786 đồng; 03 hồ sơ tiền cấp quyền thu hồi sản phẩm của các 03 dự án nạo vét luồng đường thuỷ nội địa là 1.647.104.400 đồng.
II. Đánh giá chung:
1. Thuận lợi:
- Trong thời gian từ năm 2013 đến nay với sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy và HĐND tỉnh, sự chỉ đạo quyết liệt của UBND tỉnh, sự vào cuộc quyết liệt của các ngành và các địa phương, đặc biệt lực lượng Công an... nên công tác quản lý cát, sỏi đã có chiều hướng ổn định, tình trạng khai thác trái phép trong thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực, an ninh trật tự được đảm bảo;
- Công tác lập và phê duyệt thăm dò, khai thác và sử dụng tài nguyên cát, sỏi trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; quy hoạch bổ sung và khoanh định các điểm mỏ được thực hiện, tạo cơ sở pháp lý để quản lý chặt chẽ trong việc cấp giấy phép thăm dò và cấp giấy phép khai thác khoáng sản cát, sỏi theo trình tự, thủ tục, đảm bảo tiến độ đầu tư của các dự án trong hoạt động khoáng sản;
- Hầu hết các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khai thác cát, sỏi trên địa bàn tỉnh đã chấp hành các quy định của pháp luật khoáng sản như: thực hiện lập thiết kế mỏ; đánh giá tác động môi trường; lập dự án cải tạo phục hồi môi trường và kỹ quỹ phục hồi môi trường; thực hiện việc phê duyệt tiền quyền khai thác khoáng sản và nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; nộp phí BVMT trong khai thác khoáng sản theo quy định.
Tuy nhiên, vẫn còn có tình trạng thiếu công khai minh bạch trong quá trình hoạt động; một số doanh nghiệp khai thác vượt công suất được cấp phép (theo ý kiến phản ánh của cử tri), tranh thủ sử dụng nhiều tàu, thuyền để khai thác trong những lúc không có lực lượng của cơ quan quản lý; sử dụng đất làm bến bãi chưa đúng quy định; việc lưu thông vận chuyển chưa đảm bảo ATGT, môi trường...
2. Khó khăn:
- Công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức còn nhiều hạn chế, chưa được thực hiện thường xuyên, đặc biệt là nhận thức pháp luật về đất đai, đê điều, bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản; Quy hoạch thăm dò khai thác, sử dụng khoáng sản cát, sỏi chưa thực sự đồng bộ, chưa phục vụ tốt cho công tác cấp phép hoạt động khoáng sản.
- Hoạt động khai thác cát, sỏi diễn ra trên sông nước, trong khi đó hầu hết các cơ quan quản lý không có phương tiện di chuyển trên sông. Mặt khác, các tuyến sông này (sông Lô, sông Hồng) lại nằm giữa hai tỉnh nên việc quản lý, giám sát gặp rất nhiều khó khăn, trong khi việc phối hợp giữa các địa phương còn chưa chặt chẽ. Các trường hợp, đối tượng vi phạm khi thấy lực lượng chức năng ra kiểm tra ngoài hiện trường thì nhổ neo, di chuyển phương tiện về phía địa phận tỉnh Phú Thọ hoặc thành phố Hà Nội và không khai thác nên không đủ cơ sở, thẩm quyền xử lý; có những trường hợp bỏ chạy, thậm chí cả chống đối, không hợp tác với lực lượng của các cơ quan quản lý nhà nước;
- Các quy định về quản lý hoạt động khai thác khoáng sản còn có những bất cập dẫn đến rất khó khăn cho công tác quản, lý giám sát của cơ quan chức năng và chính quyền địa phương như:
+ Chưa có quy định cụ thể về việc thả phao xác định ranh giới mỏ trên sông và để triển khai việc thả phao trên sông phải tuân thủ các quy định của pháp luật giao thông đường thủy nội địa, đồng thời các doanh nghiệp khai thác cát, sỏi phải xây dựng phương án đảm bảo an toàn đường thủy trình Chi cục Đường thủy nội địa Phía Bắc thuộc Cục đường thủy nội địa Việt nam phê duyệt. Trong khi các mỏ, điểm mỏ khai thác cát, sỏi thường ở lòng sông và phần lớn nằm dưới mực nước sông. Do vậy việc xác định ranh giới chính xác trên thực tế là khó khăn và chủ yếu phải dựa vào các điểm mốc gửi chôn cố định phía trong bờ theo sơ đồ;
+ Không quy định rõ về thời điểm khai thác trong ngày nên việc các doanh nghiệp hoạt động khai thác vào ban đêm là rất khó quản lý và kiểm soát. Thực tế không có cơ sở pháp lý để yêu cầu các doanh nghiệp chỉ thực hiện khai thác vào ban ngày và hiện vẫn phải vận động yêu cầu các doanh nghiệp xây dựng kế hoạch khai thác, trong đó có cam kết thực hiện khai thác ban ngày, tuy nhiên một số đơn vị lợi dụng việc này đưa các phương tiện khai thác vào thời gian ban đêm, vi phạm cam kết, gây bức xúc trong nhân dân nhưng cũng không có chế tài để xử phạt;
+ Theo quy định của pháp luật về khai thác khoáng sản thì chỉ có quy định về công suất khai thác tối đa theo năm (m3/năm), không quy định công suất khai thác tối đa theo ngày (m3/ngày), nên thường các doanh nghiệp lợi dụng để tập trung nhiều phương tiện khai thác vào thời điểm mùa khai thác, gây bức xúc trong nhân dân, nhưng khi cơ quan chức năng kiểm tra vào thời điểm đó không có đủ cơ sở xử lý doanh nghiệp vi phạm, vì chưa vượt quá công suất khai thác theo năm quy định trong giấy phép;
- Việc quản lý hoạt động khai thác cát, sỏi trên các sông có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp và các địa phương có liên quan. Tuy nhiên, trong thời gian qua chưa có sự phối hợp chặt chẽ và thống nhất của các cấp, các ngành trong công tác quản lý, khai thác khoáng sản và bảo vệ môi trường; một số cấp uỷ Đảng, Chính quyền cấp cơ sở chưa quan tâm đúng mức trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện đối với công tác quản lý bảo vệ khoáng sản;
- Một số các dự án nạo vét luồng đường thuỷ nội địa kết hợp tận thu khoáng sản khi phê duyệt dự án (do Bộ GTVT cấp) chưa có sự thống nhất về toạ độ, ranh giới với các đơn vị được UBND tỉnh cấp phép khai thác dẫn tới tình trạng tranh chấp, gây khó khăn cho cơ quan quản lý và địa phương;
- Đầu tư cho công tác quản lý nhà nước về khoáng sản còn có nhiều hạn chế về nguồn nhân lực, trang thiết bị và kinh phí, lực lượng cán bộ làm công tác quản lý, cán bộ thanh tra chuyên ngành còn quá mỏng. Năng lực cán bộ quản lý môi trường, khoáng sản ở cấp huyện, xã còn nhiều hạn chế nên chưa đáp ứng được yêu cầu trong việc tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản.
III. Một số giải pháp và Đề xuất, kiến nghị
1. Một số giải pháp trong thời gian tới:
- Tiếp tục quán triệt, chỉ đạo các cấp, ngành thực hiện tốt Chỉ thị số 03/CT-TTg  ngày 30/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường hiệu lực thực thi chính sách pháp luật về khoáng sản; Chỉ thị số 03/CT-UBND ngày 14/3/2013 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động khoáng sản; Chỉ thị số 11/CT-UBND ngày 8/9/2015 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác khoáng sản (cát, sỏi) trên địa bàn tỉnh;
- Chỉ đạo các ngành, các cấp phối hợp chặt chẽ trong quản lý khai thác và bảo vệ tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc; thực hiện tốt Quyết định số 07/QĐ-UBND ngày 14/3/2013 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc ban hành quy định về trách nhiệm, quan hệ phối hợp giữa các ngành, các cấp, tổ chức, cá nhân, đặc biệt là của UBND cấp huyện, UBND cấp xã là cơ quan trực tiếp quản lý địa bàn;
- Kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong việc quản lý, khai thác khoáng sản. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về khoáng sản, đưa công tác quản lý khoáng sản trên địa bàn tỉnh vào nề nếp, đúng quy định của pháp luật;
- Tăng cường công tác đánh giá tác động môi trường đối với các dự án khai thác cát, sỏi trên địa bàn tỉnh;
- Đối với những điểm mỏ đã cấp giấy phép khi hết hạn phải rà soát, đánh giá kỹ thực trạng, hiệu quả của việc khai thác; không gia hạn để đảm bảo hoàn nguyên và phục hồi nguồn tài nguyên khoáng sản cát, sỏi, đặc biệt là trên tuyến sông Lô;
- Nghiên cứu đề xuất cơ chế, chính sách theo hướng phân bổ kinh phí bảo vệ khoáng sản đến các cấp (cấp huyện, xã) nhằm gắn trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã trong công tác quản lý khoáng sản;
- Tăng cường các hoạt động nâng cao nhận thức; đẩy mạnh tuyên truyền và giáo dục chính sách pháp luật về quản lý, khai thác khoáng sản và BVMT sâu rộng trong các doanh nghiệp khai thác khoáng sản, cộng đồng dân cư có hoạt động khai thác, sử dụng khoáng sản;
- Xây dựng các phong trào quần chúng tham gia bảo vệ tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường. Đề cao trách nhiệm, tăng cường sự tham gia có hiệu quả của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp, các phương tiện truyền thông trong lĩnh vực quản lý, khai thác khoáng sản và bảo vệ môi trường;
2. Đề xuất và kiến nghị:
- Kiến nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật về quản lý hoạt động khoáng sản phù hợp thực tế, đặc biệt là quy định về việc thả phao xác định phạm vi, ranh giới; thời điểm khai thác trong ngày (chỉ được hoạt động vào ban ngày); có quy định cụ thể về công suất khai thác tối đa theo ngày và số lượng phương tiện được sử dụng khai thác tối đa; quy định rõ việc áp dụng thống nhất hệ tọa độ giữa dự án nạo vét luồng đường thủy nội địa và dự án khai thác cát, sỏi; 
- Kiến nghị Bộ Giao thông Vận tải chỉ đạo Cục ĐTNĐ Việt nam kiểm tra, nghiệm thu các dự án nạo vét luồng đường thuỷ nội địa, công bố những khu vực đã đạt độ sâu để các cơ quan quản lý và địa phương biết để kiểm soát, tránh tình trạng các đối tượng lợi dụng để khai thác khoáng sản gây khó khăn cho công tác quản lý;
- Đề nghị UBND tỉnh tiếp tục chỉ đạo các Sở, Ban, Ngành liên quan, UBND cấp huyện căn cứ chức năng nhiệm vụ chỉ đạo UBND cấp xã thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh, đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn.
D. QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN VÀ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
I. Tình hình chung
1.1. Môi trường nông thôn
1.1.1. Thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt
Theo thống kê hiện nay tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh ở khu vực nông thôn khoảng 650 tấn/ngày, tỷ lệ thu gom đạt khoảng 70%. Biện pháp xử lý hiện nay vẫn chủ yếu chôn lấp chưa đảm bảo vệ sinh môi trường. Trên địa bàn toàn tỉnh có 230 bãi tập kết rác thải theo quy hoạch với tổng diện tích 284.156m2, hầu hết các bãi rác này đã lấp đầy và đang trong tình trạng quá tải trong khi đó việc mở rộng các bãi rác này gặp rất nhiều khó khăn do không còn quỹ đất, một số địa phương đã chủ động tìm vị trí khác để quy hoạch nhưng không nhận được sự ủng hộ của người dân nên hầu hết chưa triển khai được. Do vậy, tình trạng rác thải sinh hoạt ở một số địa phương được các hợp tác xã, tổ dịch vụ vệ sinh môi trường thu gom về bãi rác nhưng không được chôn lấp hợp vệ sinh mà đổ đống tràn ra bên ngoài gây ô nhiễm môi trường và bức xúc trong nhân dân.
Bên cạnh đó, ở một số địa phương tình trạng vứt rác thải, chất thải bừa bãi trên kênh, mương, sông, suối và trục đường giao thông còn diễn ra, trong thời gian từ tháng 01/2017 đến cuối tháng 3 năm 2017 trên địa bàn có một số lượng lớn bao tải chứa rác thải, xác gia súc, gia cầm (chủ yếu là lợn chết) dọc trên các sông Phó Đáy, sông Bến Tre, một số đoạn kênh thủy lợi thuộc địa bàn các huyện Lập Thạch, Tam Dương, Vĩnh Tường, Yên Lạc gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến việc tưới tiêu thủy lợi. Ngay sau khi vụ việc xảy ra, lãnh đạo UBND tỉnh đã trực tiếp chỉ đạo các Sở, ngành, UBND các huyện liên quan xử lý kịp thời.
1.1.2. Thu gom và xử lý nước thải
Nhìn chung hạ tầng thiết yếu về tiêu thoát và xử lý nước thải ở khu vực nông thôn còn yếu kém, việc đầu tư còn manh mún, chắp vá thiếu đồng bộ do vậy chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường. Ước tính, tổng lượng nước thải sinh hoạt phát sinh ở khu vực nông thôn ước tính khoảng trên 40.000 m3/ngày đêm, hầu hết lượng nước thải này chưa được thu gom và xử lý trước khi thải ra môi trường. Tình trạng chăn nuôi gia súc, gia cầm xen ghép trong các khu dân cư còn phổ biến, trong khi hầu hết các hộ chăn nuôi này tiềm lực kinh tế hạn chế do vậy không đầu tư được hệ thống thu gom xử lý chất thải đặc biệt là nước thải nên thường xuyên xả ra môi trường mà chưa qua bất kỳ biện pháp xử lý hiệu quả nào.
1.1.3. Hoạt động tiểu thủ công nghiệp, làng nghề
Trên địa bàn tỉnh có tổng số 26 làng nghề tiểu thủ công nghiệp và một số làng có nghề với khoảng 19.300 cơ sở sản xuất. Hoạt động của các làng nghề đã góp phần vào cải thiện, nâng cao đời sống cho người dân và góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, song bên cạnh đó tình trạng ô nhiễm môi trường do hoạt động của làng nghề đang là vấn đề bức xúc, đặc biệt là các làng nghề mộc (thị trấn Thanh Lãng - Bình Xuyên, Thị trấn Yên Lạc - huyện Yên Lạc, xã An Tường - huyện Vĩnh Tường), làng nghề bánh bún (xã Lũng Hòa - huyện Vĩnh Tường), làng có nghề thu gom, tái chế, kinh doanh sắt thép, phế liệu (xã Tề Lỗ, xã Đồng Văn - huyện Yên Lạc). Nước thải, bụi, khí thải và các loại chất thải rắn kể cả các loại chất thải rắn nguy hại của các làng nghề hầu hết được thải ra môi trường mà không được phân loại, thu gom và xử lý theo quy định.
Tỉnh đã thành lập 16 cụm công nghiệp, làng nghề sản xuất tập trung với tổng diện tích quy hoạch là 344ha để từng bước di dời các cơ sở sản xuất ra khỏi khu dân cư theo quy định tại Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ, tuy nhiên việc di dời các cơ sở sản xuất trong làng nghề ra cụm công nghiệp còn gặp rất nhiều khó khăn, hầu như vẫn dậm chân tại chỗ đối với tất cả các cụm công nghiệp, làng nghề.
1.2. Môi trường các khu công nghiệp
1.2.1. Đối với nước thải
Đến thời điểm hiện nay có 06 KCN đang hoạt động đều đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, công suất thiết kế khoảng 18.800 m3/ngày đêm. Tuy nhiên, do hầu hết các KCN hiện chưa được lấp đầy nên lượng xả thải thực tế mới chỉ khoảng 6.250 m3/ngày đêm (KCN Kim Hoa 550 m3/ngày đêm; Khai Quang 4.000 m3/ngày đêm; Bình Xuyên 900 m3/ngày đêm; Bá Thiện 550 m3/ngày đêm; Bình Xuyên II 100 m3/ngày đêm và Bá Thiện II 150 m3/ngày đêm).
Về lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động, đến nay đã có 02 KCN (KCN Khai Quang và KCN Bình Xuyên II), 01 cơ sở sản xuất có lượng xả thải lớn (Công ty Honda Việt Nam) đã lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động để truyền số liệu về cơ quan quản lý theo quy định. Các KCN còn lại hiện đang chuẩn bị lắp đặt theo yêu cầu của Sở Tài nguyên và Môi trường.
1.2.2. Đối với chất thải rắn công nghiệp
Theo thống kê, tổng lượng chất thải công nghiệp hiện khoảng 186 nghìn tấn/năm, trong đó lượng chất thải nguy hại khoảng 21.000 tấn/năm, lượng chất thải công nghiệp thông thường khoảng 165 nghìn tấn/năm. Nhìn chung các chất thải công nghiệp đã được thu gom, xử lý bởi các đơn vị có chức năng. Trong đó, hầu hết lượng chất thải rắn công nghiệp thông thường được các cơ sở tái chế thu gom, xử lý. Chất thải nguy hại đã được các cơ sở có giấy phép xử lý CTNH tổ chức thu gom, vận chuyển về xử lý theo quy định.
II. Thuận lợi, khó khăn, vướng mắc:
1. Thuận lợi:
Trong những năm qua, Tỉnh ủy, HĐND tỉnh đã rất quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường, tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách cho công tác bảo vệ môi trường, cụ thể Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 23/4/2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường công tác quản lý, sử dụng tài nguyên trên địa bàn tỉnh đến năm 2015, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 27/2011/NQ-HĐND ngày 29/11/2011 của về hỗ trợ bảo vệ môi truờng nông thôn giai đoạn 2012-2015; Nghị quyết về số 201/2015 về một số cơ chế, chính sách hỗ trợ thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016-2020...
2. Khó khăn, vướng mắc
Hệ thống hạ tầng, cơ sở vật chất cho công tác BVMT nông thôn còn yếu kém, thiếu đồng bộ, chưa được quy hoạch bài bản; đầu tư xây dựng hạ tầng chưa đáp ứng kịp mức độ phát triển kinh tế, xã hội. Việc triển khai xây dựng khu tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, khu chăn nuôi tập trung để chuyển các cơ sở sản xuất, kinh doanh, cơ sở chăn nuôi ra khỏi khu dân cư vẫn gặp nhiều khó khăn, tiến độ chậm.
Lượng rác thải sinh hoạt ngày càng nhiều, trong khi các bãi rác đã lấp đầy và đang trong tình trạng quá tải. Hiện nay tỉnh đang tập trung chỉ đạo lựa chọn nhà đầu tư xây dựng nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt tập trung, tuy nhiên việc lựa chọn địa điểm triển khai xây dựng nhà máy còn gặp nhiều khó khăn do chưa nhận được sự đồng tỉnh, ủng hộ của nhân dân.
Nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền cơ sở về bảo vệ môi trường còn yếu kém, việc triển khai thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường ở còn rất hạn chế, lúng túng, một số địa phương còn thờ ơ, buông lỏng quản lý, đùn đẩy trách nhiệm lên cấp trên.
Nhận thức của một bộ phận người dân về công tác bảo vệ môi trường còn hạn chế, chưa có ý thức tự giác chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường.
III. Giải pháp trong thời gian tới
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục nâng cao ý thức, nhận thức của người dân và cộng đồng trong hoạt động bảo vệ môi trường;
- Kiến nghị với Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường sớm ban hành các Nghị định, Thông tư và văn bản hướng dẫn khắc phục những bất cập trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, đặc biệt là quy định về bảo vệ môi trường nông thôn;
- Tập trung chỉ đạo để đẩy nhanh tiến độ triển khai xây dựng nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt tập trung để giải quyết vấn đề ô nhiễm do rác thải của tỉnh;
-  Huy động các nguồn lực để tăng cường đầu tư nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu về bảo vệ môi trường, đặc biệt là tiêu thoát nước và xử lý nước thải. Đầu tư hoàn thiện hạ tầng bảo vệ môi trường ở các CCN, làng nghề tập trung; tăng cường đầu tư từ ngân sách nhà nước, bố trí kinh phí sự nghiệp môi trường và các nguồn vốn khác cho hoạt động bảo vệ môi trường ở các địa phương có làng nghề;
- Tăng cường chỉ đạo Thực hiện Chỉ thị 25/CT-TTg ngày 31/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ giải pháp cấp bách bảo vệ môi trường; Chỉ thị số 08/CT-UBND ngày 21/4/2016 và Kế hoạch số 2903/KH-UBND ngày 12/5/2016 của UBND tỉnh về việc tăng cường công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Trên đây là các nội dung được giao tại Văn bản số 3564/UBND-NN2 ngày 19/5/2017 của UBND tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường trân trọng báo cáo.

Tác giả bài viết: Trung tâm CNTT Tài nguyên và Môi trường (Khái lược)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

hệ thống xông hơi, massage sơn nhà, lăn sơn bả matit gia công cơ khí dong phuc Máy làm đá mini may lam da buffet hải sản nắp hố ga đầu cáp ngầm 24kv