23:09 ICT Thứ ba, 20/08/2019

Liên kết site

Video

Thành viên

Thống kê truy cập

váy đẹp Đang truy cập : 38

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 37


2 Hôm nay : 9311

thoi trang nu Tháng hiện tại : 176901

1 Tổng lượt truy cập : 14008963

Trang nhất » Tin Tức » Tin tức hoạt động

Nhìn lại kết quả thực hiện Dự án xây dựng mô hình thí điểm hoạt động Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tại tỉnh Vĩnh Phúc

Thứ sáu - 20/06/2008 00:14
Ngày 14/8/2006, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) đã phê duyệt Dự án xây dựng thí điểm hoạt động Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất theo Quyết định số 1070/2006/QĐ-BTNMT. Vĩnh Phúc là một trong hai tỉnh (Vĩnh Phúc và Thái Nguyên) được chọn để thực hiện Dự án. Mục đích của Dự án là thử nghiệm nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về đất đai hiện hành, về tổ chức và hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (VPĐK) các cấp phù hợp với thực tiễn; xây dựng mô hình VPĐK cấp tỉnh, cấp huyện hoạt động có hiệu quả để phổ biến, nhân rộng trên phạm vi cả nước. Một trong những nội dung quan trọng của Dự án là công tác kiện toàn tổ chức bộ máy và các điều kiện làm việc của VPĐK.

Qua 18 tháng triển khai, dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của Vụ Đăng ký và Thống kê đất đai, đến nay các nội dung thực hiện của Dự án xây dựng mô hình thí điểm hoạt động VPĐK tại tỉnh Vĩnh Phúc đã cơ bản hoàn thành. Dự án được triển khai đã giúp VPĐK cấp tỉnh kiện toàn cả về tổ chức bộ máy, cán bộ và các điều kiện làm việc trong điều kiện hiện nay. Hiện VPĐK tỉnh Vĩnh Phúc đã xây dựng được bộ máy ổn định, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ công việc; chức năng, nhiệm vụ cụ thể của VPĐK và từng đơn vị trực thuộc Sở cũng được phân định cụ thể; công tác phối hợp giữa VPĐK với các cơ quan, đơn vị có liên quan đã từng bước được nhịp nhàng, hiệu quả; nguồn nhân lực đã gia tăng hơn về số lượng, đặc biệt là kinh nghiệm công tác so với trước đây; trang thiết bị được tăng cường đầu tư đáng kể, có thể đáp ứng yêu cầu về chất lượng, tiến độ, đạt hiệu quả cao của nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, qua Dự án, cán bộ, công nhân viên chức và người lao động trong Văn phòng đã nhận thức rõ được yêu cầu nhiệm vụ và cách thức triển khai thực hiện. Hiện tại, Văn phòng đã tổ chức triển khai khá đồng bộ hầu hết các chức năng, nhiệm vụ của VPĐK được giao.
Thời gian cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN) cho các tổ chức đã được rút ngắn so với quy định của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP từ 55 ngày xuống còn 25 ngày; kết quả cấp GCN trong năm 2007 ngoài phạm vi Dự án đã tăng mạnh so với hai năm trước đây: cấp cho các tổ chức 306 giấy, tăng 50,7%; cấp cho các điểm bưu điện văn hoá là 117 giấy, tăng 100%; cho cơ sở tôn giáo là 439 giấy, tăng 54,2%; phối hợp với phòng TN&MT cấp huyện cấp GCN cho các cơ sở tín ngưỡng là 751 giấy, tăng 66,8%. Công tác lập hồ sơ địa chính đã được coi trọng và đẩy mạnh triển khai, đến nay VPĐK đã hoàn thành việc lập hồ sơ địa chính cho 6 xã, phường: Gia Khánh, Đạo Đức, Thanh Lâm, Kim Hoa, Trưng Trắc, Hùng Vương. Ngoài ra còn hỗ trợ tích cực cho huyện Mê Linh và một số huyện khác tổ chức thực hiện cấp GCN cho hộ gia đình, cá nhân.
Việc ứng dụng phần mềm Vilis mới với một số tính năng như: thuận lợi trong thao tác, thông minh khi tra cứu, tính bảo mật cơ sở dữ liệu được bổ sung ở nhiều mức… đã thay thế cho phần mềm Cilis có nhiều khiếm khuyết, hạn chế đã giúp việc lập hồ sơ địa chính dạng số đạt hiệu quả cao. Phần mềm Vilis mới đã đáp ứng được yêu cầu quản lý đất đai của địa phương, đặc biệt là trong yêu cầu cấp bách của công tác cấp GCN cũng như đáp ứng yêu cầu quản lý các trường hợp về biến động đất đai, lưu trữ lịch sử của quá trình biến động và chỉnh lý những biến động của địa phương; qua đó là cơ sở dữ liệu xác minh nguồn gốc sử dụng đất một cách đầy đủ và chính xác, phục vụ tốt cho việc giải quyết các tranh chấp, khiếu nại về đất đai. Từ thực tiễn thử nghiệm phần mềm Vilis sửa đổi theo Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT, Sở TN&MT đã có nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện phần mềm trước khi Bộ TN&MT quyết định phổ biến, áp dụng cho các tỉnh khác.
Hội nghị Tổng kết Dự án xây dựng mô hình thí điểm hoạt động Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh Vĩnh Phúc diễn ra ngày 19/3/2008 tại Sở TN&MT Vĩnh Phúc. Các đại biểu đến dự Hội nghị (gồm lãnh đạo và chuyên viên các vụ thuộc Bộ TN&MT: Đăng ký và Thống kê đất đai, Đất đai, Kế hoạch tài chính, lãnh đạo Sở, Văn phòng Sở, phòng Đăng ký đất đai, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất; các đại biểu đại diện cho các địa bàn thực hiện Dự án như: UBND huyện Mê Linh, thị xã Phúc Yên và UBND các xã Kim Hoa, phường Trưng Trắc, phường Hùng Vương; cùng các cán bộ trực tiếp thực hiện Dự án) đã thảo luận, nêu ra những khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý đất đai ở địa phương và qua quá trình thực hiện Dự án; đồng thời đã rút ra một số kinh nghiệm trong việc phát triển và đi đến hoàn thiện công tác quản lý đất đai ở các địa phương. Những bài học kinh nghiệm qua thực tế hoạt động của VPĐK cấp tỉnh và quá trình triển khai thực hiện Dự án được tổng kết tại Hội nghị như sau:
1. Việc thành lập VPĐK là điểm đổi mới đúng đắn của hệ thống pháp luật đất đai, thể hiện sự chuyển dịch nhiệm vụ về đăng ký, cấp GCN từ hoạt động quản lý Nhà nước sang hoạt động dịch vụ công, tạo điều kiện cho việc cải cách sâu rộng các thủ tục hành chính về đất đai, là giải pháp tối ưu để khắc phục sự thiếu hụt nhân lực hiện nay trong quá trình thực hiện. Tuy nhiên, nếu chỉ quan tâm việc thành lập VPĐK là chưa đủ, mà điều quan trọng hơn là phải chăm lo xây dựng, kiện toàn tổ chức bộ máy hợp lý, bố trí đủ cán bộ, được trang bị đầy đủ thiết bị kỹ thuật cần thiết thì mới có thể hoàn thành nhiệm vụ được giao theo mục tiêu của việc thành lập cho VPĐK.
2. Cán bộ VPĐK phải được học đúng chuyên môn, được bố trí phù hợp với nhiệm vụ đảm nhận và thường xuyên được bồi dưỡng, cập nhật kiến thức về những thay đổi của chính sách pháp luật, phải biết sử dụng thành thạo máy vi tính để triển khai hệ thống đăng ký đất đai điện tử (như áp dụng phần mềm hệ thống thông tin đất đai Vilis), tạo bước ngoặt lớn trong công tác quản lý đất đai ở địa phương.
3. Để triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ của VPĐK, trước hết lãnh đạo VPĐK phải nhận thức một cách đầy đủ, đúng đắn vai trò, trách nhiệm của VPĐK; phải thực hiện rà soát, đánh giá đầy đủ thực trạng tình hình các công việc thuộc phạm vi trách nhiệm của VPĐK từng cấp, xác định rõ yêu cầu khối lượng và thời gian phải hoàn thành đối với từng nhiệm vụ cụ thể; trên cơ sở đó lập kế hoạch thực hiện hàng năm, tính toán đầy đủ nhu cầu kinh phí để lập dự án trình UBND cùng cấp xét duyệt, xác định nhu cầu nhân lực để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện nay và có tính tới nhu cầu lâu dài để có kế hoạch tuyển dụng bổ sung.
4. Hoạt động của VPĐK là hoạt động sự nghiệp mà hầu hết các nhiệm vụ đều phải do nhiều người, nhiều bộ phận cùng tham gia thực hiện; nhiều công việc còn phải có sự tham gia của các cơ quan khác ngoài VPĐK. Do đó, để bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ, bảo đảm thời gian yêu cầu, nhất thiết các VPĐK phải xây dựng quy chế làm việc thật cụ thể, trong đó từng nhiệm vụ (giải quyết thủ tục hành chính; xây dựng, chỉnh lý hồ sơ địa chính, lưu trữ và cung cấp thông tin đất đai...) phải quy định rõ vai trò, trách nhiệm, thời gian hoàn thành của từng cán bộ, từng phòng (hoặc bộ phận) trong nội bộ VPĐK; phân định rõ vai trò, trách nhiệm và phương thức phối hợp giữa VPĐK với các đơn vị khác có liên quan.
5. Qua kinh nghiệm hoàn thiện hồ sơ địa chính đối với các xã đã hoàn thành cấp GCN nhưng chưa lập đủ hồ sơ địa chính cho thấy:
- Cần triển khai ngay việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính (hồ sơ địa chính dạng số) thay cho việc lập hồ sơ địa chính dạng giấy để tiết kiệm kinh phí, nhân lực (do không phải làm lại sau này), bảo đảm yêu cầu chất lượng và tính thống nhất theo quy định;
- Việc cập nhật thông tin địa chính vào cơ sở dữ liệu phải được thực hiện theo thứ tự: số hoá bản đồ địa chính; nhập thông tin thửa đất (số hiệu, diện tích, loại đất) vào cơ sở dữ liệu bản đồ; thực hiện kết nối cơ sở dữ liệu bản đồ với cơ sở dữ liệu thuộc tính địa chính; nhập thông tin của thửa đất đã cấp giấy vào cơ sở dữ liệu thuộc tính địa chính; nhập thông tin tên người đang sử dụng, quản lý theo hiện trạng của thửa đất chưa cấp GCN vào cơ sở dữ liệu thuộc tính địa chính;
- Tài liệu sử dụng để nhập thông tin của thửa đất đã cấp giấy vào cơ sở dữ liệu thuộc tính địa chính trước hết phải từ bản lưu của GCN, thửa đất cấp giấy trước năm 2005 (không có bản lưu) thì phải nhập từ sổ địa chính; trường hợp chưa lập sổ địa chính thì sử dụng hồ sơ xét duyệt cấp GCN (gồm đơn, quyết định và danh sách cấp GCN nếu có) có đối chiếu với sổ cấp GCN;
- Trước khi nhập thông tin vào cơ sở dữ liệu, nhất thiết phải thực hiện kiểm tra, rà soát giữa các tài liệu sử dụng để phát hiện và chỉnh lý các sai sót, nhầm lẫn trong quá trình lập; trường hợp có sai sót cần lập biên bản làm cơ sở pháp lý chỉnh lý hồ sơ theo quy định; ngoài ra cần kiểm tra hồ sơ xét duyệt cấp GCN để xác định bổ sung thông tin nguồn gốc sử dụng đất và các thông tin còn thiếu khác; đối với các thửa đất chuyên dùng đã cấp GCN trước năm 2005, cần kiểm tra hồ sơ xét duyệt cấp GCN, khảo sát thực tế (nếu cần) để xác định lại mục đích sử dụng đất theo quy định của Thông tư 09/2007/TT-BTNMT;
- Trường hợp số hoá bản đồ địa chính thì bản đồ địa chính sau khi số hoá phải được biên tập theo đúng phạm vi, số hiệu, diện tích các thửa của bản đồ trước khi số hoá để thống nhất với các GCN đã cấp; mục đích sử dụng của tất cả các thửa được xác định và thể hiện lại bằng ký hiệu theo hướng dẫn tại Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT; trường hợp sau khi số hoá phát hiện sai sót trong khâu tính diện tích thì thể hiện diện tích trên bản đồ số theo diện tích mới, nhưng phải lập biên bản để có căn cứ chỉnh lý biến động trong cơ sở dữ liệu (diện tích xác định lại chỉ thể hiện trong nội dung biến động);
- Cần tập hợp các hồ sơ thủ tục hành chính đã được giải quyết ở địa phương (thu hồi đất, giao đất, chuyển quyền sử dụng đất hoặc chuyển mục đích đã làm thủ tục theo quy định...) và đối chiếu với hồ sơ địa chính (kể cả bản đồ, bản lưu GCN và sổ địa chính nếu có) để chỉnh lý đồng bộ các tài liệu hồ sơ địa chính đã lập (nếu chưa chỉnh lý hồ sơ); việc nhập thông tin vào cơ sở dữ liệu phải được thực hiện từ khi thửa đất chưa có biến động và thông tin hiện trạng đã biến động chỉ được thể hiện vào nội dung biến động trong cơ sở dữ liệu;
- Việc hoàn thiện hồ sơ địa chính cần được thực hiện cùng với việc tổ chức cấp GCN bổ sung cho các thửa đất chưa cấp giấy và tổ chức đăng ký biến động đối với các thửa đất đã cấp giấy mà có biến động để chỉnh lý hồ sơ địa chính.
Phát biểu tại Hội nghị, ông Trần Hùng Phi - Phó vụ trưởng Vụ Đăng ký và Thống kê đất đai nhấn mạnh: Trước mắt, VPĐK cấp tỉnh cần hỗ trợ tích cực về nhân lực cũng như các điều kiện làm việc cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện (vì mới được thành lập) để phấn đấu xây dựng một hệ thống dịch vụ công đầy đủ nhằm hoàn thành cấp GCN, lập hồ sơ địa chính ban đầu vào năm 2010 theo Nghị quyết của Quốc hội.
Cũng tại Hội nghị này, ông Nguyễn Văn Lộc -  Giám đốc Sở TN&MT đánh giá cao khối lượng công việc mà tập thể lãnh đạo, các cán bộ công chức, viên chức và người lao động của phòng Đăng ký đất đai, VPĐK trực thuộc Sở, các huyện, thị, thành phố và các địa bàn thực hiện Dự án đã hoàn thành trong thời gian qua; đồng thời kiến nghị UBND tỉnh quan tâm chỉ đạo các huyện, thị, thành phố nhanh chóng thành lập VPĐK trực thuộc Phòng TN&MT theo đúng quy định của Luật Đất đai, tạo điều kiện về nhân lực, đầu tư đủ kinh phí để kiện toàn tổ chức và các điều kiện làm việc cho VPĐK, từng bước hoàn thiện công tác quản lý đất đai ở các địa phương; đề nghị Bộ TN&MT xem xét mô hình VPĐK thực hiện tại tỉnh Vĩnh Phúc và một số tỉnh khác để xây dựng một mô hình chuẩn, thống nhất và phổ biến nhân rộng trong cả nước.
Tuy nhiên, việc thực hiện Dự án vẫn còn một số hạn chế, đó là đội ngũ cán bộ còn hạn chế về kinh nghiệm, năng lực chuyên môn cũng như về số lượng; các điều kiện hoạt động của VPĐK còn rất thiếu so với yêu cầu nhiệm vụ được giao; các VPĐK cấp huyện được thành lập chậm cũng làm hạn chế phần nào hiệu quả của Dự án so với mục tiêu đề ra; thủ tục cấp GCN ở địa phương còn chưa được cải cách đầy đủ theo Luật Đất đai năm 2003.
Kết quả thực hiện Dự án đến nay đã cơ bản hoàn thành, bước đầu đã đem lại những kết quả khả quan trong tổ chức và hoạt động; đã phân biệt rõ các công việc mang tính sự nghiệp với công việc mang tính quản lý Nhà nước trong lĩnh vực quản lý đất đai. Qua đó cho thấy, việc thành lập VPĐK là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong việc phát triển và đi đến hoàn thiện công tác quản lý đất đai ở các địa phương; từ đó là cơ sở để xây dựng mô hình liên thông đi vào hoạt động nhịp nhàng, cung ứng kịp thời nhu cầu giao dịch, tra cứu, tìm hiểu về đất đai của người dân.

Nguồn tin: Bản tin Tài nguyên và Môi trường

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

hệ thống xông hơi, massage sơn nhà, lăn sơn bả matit gia công cơ khí dong phuc Máy làm đá mini may lam da buffet hải sản nắp hố ga đầu cáp ngầm 24kv