10:07 ICT Thứ tư, 15/08/2018

Liên kết site

Video

Thành viên

Thống kê truy cập

váy đẹp Đang truy cập : 157

Máy chủ tìm kiếm : 87

Khách viếng thăm : 70


2 Hôm nay : 4068

thoi trang nu Tháng hiện tại : 131485

1 Tổng lượt truy cập : 10563019

Trang nhất » Tin Tức » Tin hoạt động Đảng - Đoàn thể

85 năm truyền thống vẻ vang công tác Dân vận của Đảng

Thứ tư - 14/10/2015 09:33
Bác Hồ - mẫu mực của phẩm chất và phong cách người cán bộ dân vận.

Bác Hồ - mẫu mực của phẩm chất và phong cách người cán bộ dân vận.

Lịch sử của dân tộc Việt Nam là lịch sử của một dân tộc anh hùng, bền bỉ và kiên cường đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước đầy gian khó, quyết liệt và hào hùng đã hun đúc nên truyền thống yêu nước của dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc - sức mạnh của lòng dân. Sức mạnh của Tổ quốc bắt nguồn từ sức mạnh của nhân dân.

Những bài học lịch sử quý báu của dân tộc ta đó là: những triều đại thịnh trị của Việt Nam là những triều đại lấy dân làm gốc, coi ý dân là ý trời, vua quan có trách nhiệm phải lo cái lo của dân, vui cái vui của dân, cùng nhân bàn bạc, cùng nhân dân xây dựng và chiến đấu, đó là sức mạnh bách chiến bách thắng của dân tộc ta. Khắc sâu lời dạy của các bậc tiền bối, như: Nguyễn Trãi “Phúc chu tín thuỷ, dân do thuỷ” (Lật thuyền rồi mới biết dân mạnh như nuớc”, Nguyễn Bỉnh Khiêm:“Đắc Quốc ưng Tri tại đắc dân”(Được nước chính là được lòng dân), Trần Hưng đạo: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc, bền rễ đó là thượng sách”. Tư tưởng “Lấy dân làm gốc” được Chủ Tịch Hồ Chí Minh kế thừa, nâng lên tầm cao mới, với những nội dung mới. Người chỉ rõ: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lưc lượng đều ở nơi dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một tư tưởng lớn cho Đảng và nhân dân ta: “Lực lượng của dân rất to, việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Công tác dân vận là một trong những công tác cơ bản của Đảng cộng sản Việt Nam. Xuất phát từ nguyên lý chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân. Từ khi ra đời, Đảng ta đã có nhiều thành công trong tổ chức lực lượng cách mạng thông qua công tác dân vận. Cán bộ, đảng viên phải bám dân, vận động dân, giác ngộ dân, dựa vào dân mà sống và hoạt động. Đảng không có dân như cá không có nước; dân không có Đảng như không có người dẫn đường chỉ lối. Trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, quan hệ Đảng-dân tạo thành sức mạnh để chiến thắng kẻ thù và đói nghèo, lạc hậu. Gắn bó máu thịt với nhân dân đã trở thành một truyền thống tốt đẹp và là nguồn sức mạnh to lớn của Đảng ta. Sự nghiệp đổi mới của đất nước đòi hỏi “phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc”- động lực chủ yếu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.

Từ tháng 10 năm 1930 đến nay, trải qua các thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn luôn đặt công tác dân vận là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm tập hợp, tuyên truyền, giáo dục quần chúng, nhân dân thành một lực lượng to lớn, đông đảo, đoàn kết xung quanh Đảng Cộng sản Việt Nam, tham gia các phong trào cách mạng vì độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Công tác dân vận - vận động các tầng lớp nhân dân của Đảng trở thành nhiệm vụ chiến lược, cấp bách của Đảng ta qua các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam XHCN. Các phong trào cách mạng sôi nổi của quần chúng, nhân dân sau khi Đảng ta được thành lập và lãnh đạo như: phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh thời kỳ 1930- 1931, phong trào Mặt trận dân chủ Đông Dương thời kỳ 1936-1939, phong trào Phản đế 1939-1941 và phong trào Mặt trận Việt minh thời kỳ 1941-1945... đã khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta trong việc tập hợp, chuẩn bị lực lượng, phát huy sức mạnh, truyền thống đoàn kết toàn dân tộc thực hiện các mục tiêu cách mạng. Thông qua các phong trào quần chúng, Đảng ta đã xây dựng, phát triển lực lượng chính trị ngày càng đông đảo, hùng hậu, với đầy đủ các thành phần, giai cấp, tầng lớp nhân dân, đồng thời kết hợp với việc xây dựng lực lượng vũ trang, chớp thời cơ, lãnh đạo thành công cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành độc lập, xây dựng chính quyền công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Trong suốt 30 năm trường kỳ của 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược( 1945-1975), với tinh thần “ không có gì quý hơn độc lập tự do”, công tác vận động của Đảng đã góp phần tuyên truyền, vận động, tổ chức những phong trào cách mạng rộng lớn, động viên sức người, sức của, huy động được sức mạnh của toàn dân tộc, làm nên những chiến thắng vẻ vang, những chiến công hiển hách, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, thu non sông về một mối, làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Từ thực tiễn đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng ta đã rút ra được những bài học liên quan trực tiếp, gắn bó mật thiết với công tác dân vận của Đảng đó là: “ Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên thắng lợi của lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng ta là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân sẽ đưa đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước”. “ Không ngừng củng cố tăng cường đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu và bài học lớn của cách mạng nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình, bởi “ Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.

Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, quyết tâm đổi mới toàn diên, đưa nước ta chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, Đại hội VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới và rút ra Bốn bài học, trong đó có bài học quan trọng là “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc, phải đặc biệt chăm lo củng cố mối liên hệ giữa Đảng và nhân dân”. Đến nay sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, cùng với những thành tựu rất quan trọng về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, công tác dân vận của Đảng cũng đổi mới một cách cơ bản, toàn diện cả về quan điểm, nhận thức, nội dung, phương thức hoạt động đến bộ máy, tổ chức, cán bộ. Hội nghị lần thứ 8 BCH Trung ương Đảng khóa VI đã ban hành Nghị quyết Trung ương 8B về “Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”, cho đến nay Nghị quyết vẫn còn nguyên giá trị. Nghị quyết đã nêu lên 4 quan điểm chỉ đạo công tác vận động quần chúng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân:
Một là: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng.
Hai là: động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài hòa các lợi ích, thống nhất quyền lợi và nghĩa vụ công dân.
Ba là: các hình thức tập hợp nhân dân phải đa dạng.
Bốn là: công tác quần chúng là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể.

Tại đại hội VII, Đảng ta đã rút ra 6 bài học kinh nghiệm chủ yếu, trong đó có bài học liên quan đến việc mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của nhân dân. Đại hội đã xác định phải xây dựng cơ chế để thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Thực hiện quan điểm, Nghị quyết Đại hội VIII, ngày 18-2-1998, Bộ Chính trị BCH Trung ương khóa VIII đã ban hành Chỉ thị 30- CT/TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Sau đó Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa X đã ra Nghị quyết số 45/1998/NQ-UBTVQH10, Chính phủ ban hành 3 Nghị định số 29,07 và 71 về thực hiện Quy chế dân chủ ở 3 loại hình cơ sở, đến nay có Pháp lệnh 34/2007/UBTVQH, Nghị định 87-NĐ/CP về thực hiện Quy chế dân chủ ở xã phường, thị trấn và các doanh nghiệp. Tiếp đó, Đảng Nhà nước ta tiếp tục có những Nghị định, Chỉ thị liên quan đến công tác vận động quần chúng. Ngày 23-11-1998, Thường trực Bộ chính trị khóa VIII đã có thông báo số 183/TB-TW về tổng kết thực hiện chủ trương, chính sách đại đoàn kết toàn dân. Ngày 6-10-1998, Bộ chính trị khóa VIII đã ban hành Chỉ thị số 42 CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các hội quần chúng. Cùng với các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, ngày 21-9-2000, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 18/2000/ CT-TTg về “Tăng cường công tác dân vận của chính quyền”. Ngoài ra, trong thời gian qua, Đảng ta có nhiều Nghị quyết, Chỉ thị nhằm tăng cường sự lãnh đạo các đoàn thể nhân dân, các thành viên hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở.

Với chủ đề “ Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đại hội IX của Đảng đã tiếp tục chỉ rõ những quan điểm công tác chỉ đạo công tác dân vận của Đảng: “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh và động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ tổ quốc, xây dựng khối đoàn kết toàn dân là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội” . Thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Hội nghị Trung ương lần thứ 7 đã ban hành 3 Nghị quyết quan trọng, về “ Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”; “Công tác dân tộc”; “Công tác tôn giáo”. Đây là những Nghị quyết rất quan trọng, thể hiện sự quan tâm lãnh đạo chỉ đạo sâu sát, cụ thể, thiết thực đối với công tác vận động quần chúng của Đảng, đối với từng giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo theo hướng “ Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân” là một biện pháp quan trọng để khắc phục bệnh quan liêu, xa dân. Đại hội X của Đảng nhấn mạnh: “Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Phải xây dựng các thiết chế mở rộng và phát huy dân chủ, bảo đảm các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đều có sự tham gia xây dựng của nhân dân, phản ánh ý chí, lợi ích của nhân dân, của quốc gia, dân tộc. Cán bộ, đảng viên và công chức phải thật sự là công bộc của nhân dân”. Việc cụ thể hóa các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng bằng chính sách, pháp luật của Nhà nước là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện đại đoàn kết toàn dân và sinh hoạt dân chủ trong xã hội. Việc Nhà nước từng bước xây dựng, hoàn thiện một cách đồng bộ các chính sách kinh tế, xã hội đúng đắn đã phát huy mọi khả năng sáng tạo của nhân dân. Việc không ngừng đổi mới, hoàn thiện các chính sách cụ thể đối với các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, đặc biệt là các chính sách về kinh tế- xã hội, phân phối, tiêu dùng, bảo đảm quyền lợi và trách nhiệm của công dân đã góp phần rất quan trọng vào dân chủ hóa xã hội và thành công của công tác dân vận của Đảng trong những năm qua.

Đồng thời với việc tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác vận động quần chúng, không ngừng đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo đối với hệ thống chính trị, Đảng ta luôn luôn quan tâm tăng cường bộ máy, tổ chức, đội ngũ cán bộ làm công tác vận động quần chúng. Ngay từ khi mới được thành lập, trong điều kiện hoạt động rất nguy hiểm, khó khăn, thiếu thốn, các đảng viên của Đảng đã lăn lộn trong phong trào quần chúng, nhân dân thực hiện vô sản hóa. “Ba cùng” với nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân bảo vệ, che chở, giúp đỡ, Đảng cử những đồng chí có uy tín, phẩm chất, năng lực, gắn bó với quần chúng nhân dân, trưởng thành từ phong trào quần chúng phụ trách công tác dân vận của Đảng. Hệ thống, bộ máy, tổ chức, đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu, vận động quần chúng ngày càng được hoàn thiện, hoạt động ngày một nề nếp, hiệu quả. Ngày 29-3-1976, sau khi nước nhà được thống nhất, đất nước chuyển sang giai đoạn phát triển mới. Bộ Chính trị khóa IV đã ban hành Nghị quyết 249 về việc thành lập Ban dân vận và Mặt trận Trung ương. Cơ quan này vừa làm tham mưu cho Trung ương Đảng về công tác dân vận và Mặt trận tổ quốc Việt Nam. Ngày 8-3-1977, Ban Bí thư Trung ương khóa IVđã có Chỉ thị số 05 về “Tăng cường công tác dân vận và Mặt trận”, chỉ đạo các Tỉnh, Thành ủy cần thành lập Ban Dân vận- Mặt trận; ở cấp Huyện cần phân công ủy viên Ban Thường vụ phụ trách; ở cấp xã có ủy viên Ban Thường vụ hoặc cấp ủy phụ trách công tác dân vận. Để tiếp tục củng cố, tăng cường công tác vận động quần chúng trong tình hình mới, ngày 17-3-1981, Ban Bí thư Trung ương khóa IV đã Quyết định thành lập Ban Dân vận Trung ương và Đảng Đoàn Mặt trận tổ quốc Việt Nam, trong đó “ Ban dân vận Trung ương là cơ quan tham mưu chiến lược về công tác Dân vận”. Hội nghị Trung ương 3 khóa VII đã ban hành Nghị quyết về một số nhiệm vụ cơ bản, cấp bách trong công tác xây dựng Đảng, quyết định gắn việc sơ kết 2 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8b khóa VI với công tác xây dựng Đảng, đặt ra nhiệm vụ: “Đổi mới và tăng cường công tác vận động nhân dân, củng cố mối liên hệ giữa Đảng và nhân dân”.Thực hiện Nghị quyết nói trên, ngày 9-7-1992, Ban Bí thư Trung ương đã có Quyết định số 32 yêu cầu: “Phải kiện toàn Ban Dân vận ở Trung ương và Tỉnh, Thành phố; ở cấp quận, huyện thành lập khối Dân vận do đồng chí ủy viên Ban Thường vụ phụ trách; phải có chính sách đãi ngộ thoả đáng đối với cán bộ dân vận và cán bộ đoàn thể” . Ngày 15-7- 2002 Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng khóa IX đã ban hành Quyết định số 38/QĐTW về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Ban Dân vận Trung ương. Quyết định của Bộ Chính trị khẳng định: “Ban Dân vận Trung ương là cơ quan tham mưu của Ban chấp hành Trung ương mà trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, về chủ trương, chính sách và giải pháp lớn về công tác dân vận”. Hướng dẫn số 01 liên Ban Tổ chức- Ban Dân vận Trung ương ban hành ngày 25-5-2000 về “Chức năng nhiệm vụ, tổ chức, bộ máy và biên chế cán bộ của Ban Dân vận địa phương”, là cơ sở quan trọng tiếp tục hoàn thiện, làm rõ chức năng, nhiệm vụ, củng cố, tăng cường bộ máy, cán bộ của Ban Dân vận cấp ủy các tỉnh. thành phố, huyện, thị và Khối Dân vận cấp xã. Đến nay Hệ thống dân vận trong cả nước, từ Trung ương đến cơ sở, đã khá đồng bộ, được kiện toàn, tăng cường cả về tổ chức, bộ máy, biên chế cán bộ, từng bước đáp ứng nhu cầu công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Sau Đại hội X, Trung ương đã có các Nghị quyết về vận động quần chúng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị về công tác dân vận (Về phụ nữ, thanh niên, công nhân, trí thức, về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Cấp uỷ, chính quyền các địa phương, các ngành đều có Nghị quyết, Chỉ thị, chương trình hành động tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác vận động quần chúng. Các lực lượng của hệ thống chính trị đã tăng cường phối hợp làm công tác dân vận, nhất là xử lý các vấn đề nhạy cảm trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, góp phần giữ vững ổn định chính trị- xã hội ngay từ cơ sở.

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay đang đặt ra cho công tác dân vận những yêu cầu mới rất to lớn. Hằng ngày mỗi chúng ta cùng sống với cộng đồng xã hội và với nhân dân. Nhưng chỉ với tấm lòng vì dân, vì nước, yêu thương nhân dân thì chúng ta mới hiểu thấu đời sống vui buồn, đau khổ, những tâm tư, nguyện vọng, ý kiến và những bức thiết đang đặt ra hằng ngày của nhân dân. Đội ngũ những người làm công tác dân vận của Đảng phải thường xuyên rèn luyện về bản lĩnh, ý chí, trau dồi phẩm chất đạo đức, phong cách công tác trong phong trào cách mạng của nhân dân và trong thực tiễn của cuộc sống. Người cán bộ dân vận phải thực sự thấm nhuần phương châm: “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”; thực sự “Nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”.

Ghi nhớ lời dạy của Bác về dân và công tác dân vận, ôn lại truyền thống 85 năm công tác dân vận của Đảng, chúng ta không bao giờ quên ngày 15/10 và nguyện sẽ làm những việc thiết thực, hiệu quả, “xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Thực tiễn 85 năm qua cho thấy, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung và Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng về công tác dân vận đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, đó là “Tin ở lực lượng và sức mạnh của nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, một lòng, một dạ phục vụ nhân dân sẽ phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng”. Tiếp tục đổi mới cách nghĩ, cách làm và quyết tâm làm, nhất định chúng ta sẽ thực hiện tốt công tác dân vận của Đảng, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X, Đại hội XI, tiến tới Đại hội XII của Đảng, thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây chính là điều chúng ta thực hiện tốt Di chúc và lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”.
 
 

Tác giả bài viết: TTCNTT Tài nguyên và Môi trường

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

hệ thống xông hơi, massage sơn nhà, lăn sơn bả matit gia công cơ khí dong phuc Máy làm đá mini may lam da buffet hải sản nắp hố ga đầu cáp ngầm 24kv