17:01 ICT Thứ hai, 16/09/2019

Liên kết site

Video

Thành viên

Thống kê truy cập

váy đẹp Đang truy cập : 60

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 58


2 Hôm nay : 3224

thoi trang nu Tháng hiện tại : 151735

1 Tổng lượt truy cập : 14256181

Trang nhất » Tin Tức » Môi trường

Vai trò của cộng đồng trong bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên

Thứ sáu - 23/11/2007 06:04
Vai trò của cộng đồng trong bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên

Vai trò của cộng đồng trong bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên

Cộng đồng là một tập hợp công dân cư trú trong một khu vực địa lý, hợp tác với nhau về những lợi ích chung và chia sẻ những giá trị văn hoá chung.
Một số tổ chức chính trị - xã hội cũng có thể đại diện cho cộng đồng như: Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân...


Sự tham gia của cộng đồng vào bảo vệ môi trường (BVMT) khác với sự tham gia của từng cá nhân, bởi vì trước hết cộng đồng là một tập hợp dân cư có lịch sử gắn bó lâu dài và chia sẻ nhiều đặc điểm chung. Chính vì vậy, cộng đồng là một tổng thể nên có những nét chung mà từng cá nhân tạo nên cộng đồng không có.


* Cộng đồng có vai trò gì trong công tác bảo vệ môi trường?


Những tính chất có sức mạnh nổi bật của cộng đồng là: tính đoàn kết, gắn bó, hỗ trợ lẫn nhau vì quyền lợi chung (sức mạnh tập thể bao giờ cũng lớn hơn sức mạnh cá nhân); sự sáng tạo và duy trì các kiến thức bản địa (đây là một đặc trưng văn hoá phi vật thể, lan truyền và bổ sung từ thế hệ này qua thế hệ khác, tạo ra sức sống của cộng đồng trong quá trình sản xuất và bảo vệ cuộc sống); lòng tự hào về truyền thống của làng xóm, của quê hương gắn với tình yêu dân tộc, đó cũng chính là cuội nguồn lớn nhất của sức mạnh cộng đồng. Hiện nay công tác BVMT đang đứng trước thách thức to lớn, khi mà nhu cầu về một môi trường sống trong lành và an toàn luôn mâu thuẫn với nhu cầu hưởng thụ một đời sống vật chất sung túc. Nói cách khác, công tác BVMT đang phải đối mặt với các mẫu thuẫn trong suy nghĩ, thái độ, hành vi về môi trường giữa các nhóm người khác nhau trong xã hội, giữa người này với người khác và ngay cả trong bản thân một con người. Để quản lý môi trường có hiệu quả, trước hết cần dựa vào các cộng đồng. Các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường phải là thể thống nhất, hài hoà và có sự tham gia của tất cả các cá nhân cũng như các tổ chức trong việc chăm sóc môi trường ở cơ sở để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống. BVMT ở cơ sở xã, phường, thị trấn là một vấn đề còn mới mẻ, nhưng rất bức bách và gắn liền với lợi ích của cộng đồng. Sự tham gia của cộng đồng vào BVMT là một trong những giải pháp quan trọng của công tác quản lý, BVMT ở địa phương, vì qua các cấp quản lý hành chính (từ Trung ương đến cơ sở) thì càng xuống cấp thấp hơn vai trò của người dân càng trở nên quan trọng. Sự tham gia của cộng đồng vào BVMT không chỉ tạo thêm nguồn lực tại chỗ cho sự nghiệp BVMT, mà còn là lực lượng giám sát môi trường nhanh và hiệu quả, giúp cho các cơ quan  quản lý môi trường giải quyết kịp thời sự ô nhiễm môi trường ngay từ khi mới xuất hiện.


* Thế nào là sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên và BVMT?


Sự tham gia của cộng đồng là việc một cộng đồng được tham gia tư vấn ý kiến, tỏ thái độ và mối quan tâm của họ về một kế hoạch phát triển hay một qui hoạch phát triển kinh tế vùng, khu vực, hoặc kế hoạch sử dụng tài nguyên. Đây là cơ hội để người dân có thể bày tỏ ý kiến của mình và bằng cách đó họ có thể làm ảnh hưởng đến sự ra quyết định của cấp có thẩm quyền. Điều này sẽ tác động rất lớn đến kế hoạch của một vùng rộng lớn, hoặc cũng có thể là một dự án nhỏ. Hình thức tham gia của cộng đồng có thể khác nhau: có thể là một chính sách về môi trường, qui hoạch vùng, xây dựng các nhà máy, khu công nghiệp. Mức độ và loại hình tham gia của cộng đồng ở từng vùng mang tính đặc trưng riêng, đặc biệt còn tùy thuộc vào tâm lý, trình độ dân trí và khả năng nhận thức những vấn đề liên quan đến ý kiến tham vấn, đóng góp của cộng đồng.


Tham vấn của cộng đồng không phải luôn luôn được thỏa mãn, điều này phụ thuộc vào 2 yếu tố cơ bản như sau:


+ Nếu mục đích của các nhà đầu tư, nhà hoạch định kế hoạch là để tìm hiểu thái độ của cộng đồng đối với quá trình quy hoạch thì sự tham vấn của cộng đồng chỉ cần người đại diện; điều quan trọng là mọi ý kiến tư vấn đều phải được cởi mở, công khai và có tính xây dựng;


+ Những người ra quyết định, lập quy hoạch không nhất thiết phải đồng ý với những ý kiến của cộng đồng; tuy nhiên họ cần phải quan tâm đến cộng đồng một cách nghiêm túc và khi thấy cần thiết, hợp lý, họ phải có quyết định thay đổi quy hoạch, điều chỉnh quyết định.


* Tại sao cần có sự tham gia của cộng đồng?


Những quyết định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng tài nguyên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của cộng đồng khu vực. Những người phải chịu tác động bao gồm những người sống, làm việc, học tập và người thường qua lại trong khu vực đó; do đó sự cần thiết phải có những ý kiến về những gì họ đang làm, những gì họ đang muốn, họ đang tìm hiểu.


Vai trò của cộng đồng trong quá trình giám sát và cưỡng chế tuân thủ Luật BVMT gồm: ngăn ngừa các hành vi vi phạm, phát hiện sự cố môi trường và các vi phạm, đấu tranh với các hành vi vi phạm.


Mô hình cộng đồng tham gia BVMT có ba nguyên tắc cơ bản, đó là: tăng quyền lực của cộng đồng, sự công bằng, tính hợp lý về sinh thái và sự phát triển bền vững.


Tăng quyền lực của cộng đồng là sự phát triển sức mạnh của cộng đồng trong xây dựng mô hình BVMT thông qua việc các cơ quan quản lý khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi và trao quyền lực chủ động cho cộng đồng trong những lĩnh vực cụ thể; tăng cường sự kiểm soát, sự tiếp cận của cộng đồng trong giải quyết một số vấn đề môi trường nào đó (như giải quyết một số vấn đề quản lý tài nguyên) sẽ tạo ra cơ hội tốt hơn cho lợi ích kinh tế của địa phương. Tăng quyền lực của cộng đồng có liên quan đến sự an toàn trong việc sử dụng tài nguyên; sự công bằng trong quản lý tài nguyên và triển khai các mô hình; quyền lợi tham gia các mô hình (như xác định các nhu cầu, thiết kế mô hình, thực thi và đánh giá kết quả cũng như tham gia vào các quyết định khác); xây dựng ý thức môi trường tự quản và xây dựng các mô hình tự quản về môi trường tại cộng đồng; việc giáo dục và huấn luyện về tài nguyên, môi trường, kiến thức về xây dựng mô hình.


Sự công bằng là sự bình đẳng giữa mọi cá nhân và tổ chức đối với cơ hội có được trong việc xây dựng các mô hình BVMT. Mọi người đều có quyền như nhau trong việc tiếp nhận thông tin, quyền được hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp, lợi ích vật chất và chi phí vật chất, lợi ích trước mắt và lâu dài do việc triển khai các mô hình BVMT mang lại.


Sự tham gia của cộng đồng trong mô hình BVMT địa phương đòi hỏi cộng đồng nhận thức và tổ chức thực hiện các hoạt động của mình một cách hợp lý và bền vững về sinh thái. Những hoạt động được thực hiện cần phải tính đến ngưỡng chịu đựng của nguồn tài nguyên và sinh thái. Sự phát triển bền vững đòi hỏi phải cân nhắc, nghiên cứu trạng thái và bản chất của môi trường tự nhiên trong khi theo đuổi sự phát triển kinh tế mà không làm tổn hại đến lợi ích của thế hệ tương lai.


Có ba yếu tố hợp thành các mô hình cộng đồng tham gia BVMT, bao gồm: đáp ứng nhu cầu (đòi hỏi cộng đồng phải đủ khả năng duy trì, tạo ra hoặc thu được các sản phẩm và dịch vụ cần thiết cho đời sống, sức khoẻ và phúc lợi của họ một cách bền vững), cải thiện và duy trì môi trường (gồm cả việc bảo tồn đất, tài nguyên nước, sử dụng tài nguyên sinh học, khống chế ô nhiễm, phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường), tăng quyền lực của cộng đồng (là việc tạo thuận lợi cho các cộng đồng và cá nhân tự kiểm soát cuộc sống của mình, kể cả tạo ảnh hưởng đến các quyết định có tác động đến mình).


Mô hình BVMT có nhiều lợi ích đối với cộng đồng. Mô hình BVMT có thể tạo ra cơ hội mới về việc làm, huy động các nguồn lực và kỹ năng chưa được sử dụng của cộng đồng cho việc thực hiện các sáng kiến và sự đa dạng về nếp sống; nhiều mô hình BVMT dựa vào cộng đồng tuy kinh phí tư thấp, song lại có hiệu quả cao về sử dụng con người và tài nguyên vật chất. Trong cộng đồng đô thị cũng như nông thôn, các mô hình BVMT có tác dụng nâng cao trách nhiệm đối với môi trường địa phương. Với sự đảm bảo quyền sở hữu và quyền sử dụng sức mạnh của nhân dân có thể tạo lập phương hướng lâu dài và tổ hợp các mục tiêu kinh tế và BVMT tiến đến phát triển bền vững. Mô hình BVMT đem lại lợi ích đối với quốc gia như: giảm thiểu các mâu thuẫn xã hội do ô nhiễm môi trường gây ra; huy động được nhiều tầng lớp nhân dân tham gia BVMT trong qua trình phát triển các mô hình BVMT, tạo nên sự hợp tác liên ngành ở địa phương.


* Một số chính sách và định hướng về công tác xã hội hoá bảo vệ môi trường:


Quyền, nghĩa vụ công dân và cộng đồng trong việc tham gia BVMT đã được nêu rõ trong những văn bản qui phạm pháp luật của nước ta.


Năm 1998, Bộ chính trị Đảng cộng sản Việt Nam đã ban hành Chỉ thị số 36/CT-TW về vấn đề BVMT trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Chỉ thị nêu rõ BVMT là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, cũng như vai trò của toàn xã hội, công dân các tổ chức quần chúng. Đây là những cơ sở quan trọng cho việc xã hội hoá BVMT trong Chiến lược BVMT quốc gia giai đoạn 2001-2010 và định hướng đến năm 2020.


Ngày 15/11/2004, Nghị Quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành đã đặt nền móng vững chắc cho sự tham gia của cộng đồng vào BVMT. Nghị Quyết 41-NQ/TW chỉ rõ: BVMT là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình và của mọi người, là biểu hiện của nếp sống văn hoá, đạo đức, là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh, là sự tiếp nối truyền thống yêu thiên nhiên, sống hài hoà với tự nhiên của cha ông ta (khoản 3, mục II); hình thành cho được ý thức giữ gìn vệ sinh chung, xoá bỏ các phong tục tập quán, thói quen nếp sống không văn minh, không hợp vệ sinh, các hủ tục mai táng; xây dựng công sở, xí nghiệp, gia đình, làng bản khu phố sạch đẹp đáp ứng các yêu cầu về vệ sinh môi trường; đa dạng hoá các dịch vụ vệ sinh môi trường, dịch vụ cung cấp nước sạch cho nhân dân; đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động bảo vệ môi trường; xác định rõ trách nhiệm BVMT của nhà nước, cá nhân tổ chức và cộng đồng, đặc biệt đề cao trách nhiệm cơ sở sản xuất dịch vụ; tạo cơ sở pháp lý và cơ chế chính sách khuyến khích cá nhân tổ chức và cộng đồng tham gia công tác BVMT; hình thành các loại hình tổ chức đánh giá, tư vấn, giám định, công nhận, chứng nhận BVMT; khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia các dịch vụ thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải và các dịch vụ khác về BVMT; phát triển các phong trào quần chúng tham gia BVMT, đề cao trách nhiệm tăng cường sự tham gia có hiệu quả của các tổ chức chính trị - xã hội, các phương tiện truyền thông trong hoạt động BVMT; phát hiện các mô hình điển hình tiên tiến trong hoạt động BVMT để khen thưởng, phổ biến, nhân rộng, duy trì và phát triển...


Ngày 22/02/2005, Thủ Tướng Chính Phủ đã ban hành Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg về việc Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với nhiệm vụ đẩy mạnh xã hội hoá công tác BVMT có 4 nội dung chính: thể chế hoá các qui định về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của các tổ chức đoàn thể, cộng đồng dân cư, cá nhân tham gia công tác BVMT; đa dạng hoá các loại hình hoạt động BVMT, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng thực hiện các dịch vụ BVMT; xây dựng phong trào toàn dân BVMT; xây dựng và thực hiện hương ước, qui định, cam kết BVMT và phát triển các mô hình cộng đồng dân cư tự quản trong hoạt động BVMT.


Ngày 02/12/2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; trong đó có nêu rõ: BVMT là nhiệm vụ của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ chức, cộng đồng và của mọi người dân; BVMT phải trên cơ sở tăng cường quản lý nhà nước, thể chế và pháp luật đi đôi với việc nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của mọi người dân, của toàn xã hội về BVMT. Nội dung của việc xã hội hoá công tác BVMT là huy động ở mức cao nhất sự tham gia của xã hội vào công tác BVMT; xác lập các cơ chế khuyến khích, các chế tài hành chính, hình sự và thực hiện một cách công bằng; đề cao vai trò các đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội trong công tác BVMT, giám sát việc BVMT, đưa BVMT vào nội dung hoạt động của các khu dân cư, phát huy vai trò các tổ chức ngành.


Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ đã chỉ rõ việc huy động toàn dân tham gia phát triển bền vững với các định hướng cụ thể: nâng cao sự tham gia của cộng đồng trong việc xem xét đánh giá tác động môi trường…; phát triển các phong trào quần chúng và hoạt động cộng đồng trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường sống, bảo vệ các nguồn tài nguyên môi trường tại địa phương..., thành lập các nhóm BVMT tự quản lý, giám sát việc sử dụng tài nguyên ở địa phương; xây dựng các điểm cộng đồng điển hình về phát triển bền vững, về hệ thống tự quản tài nguyên thiên nhiên, BVMT và nhân rộng các điển hình.


Các quy định về xã hội hoá công tác BVMT và sự tham gia của cộng đồng trong BVMT cũng được ghi nhận trong một số Điều khoản của Luật BVMT năm 2005 có hiệu lực từ ngày 01/7/2006:


Điều 52 quy định về BVMT nơi công cộng nêu rõ:


“1. Tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường và giữ gìn vệ sinh ở nơi công cộng; đổ, bỏ rác vào thùng chứa rác công cộng hoặc đúng nơi quy định tập trung rác thải; không để vật nuôi gây mất vệ sinh nơi công cộng.


2. Tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư quản lý công viên, khu vui chơi, giải trí, khu du lịch, chợ, nhà ga, bến xe, bến tàu, bến cảng, bến phà và khu vực công cộng khác có trách nhiệm sau đây:


a) Niêm yết quy định về giữ gìn vệ sinh ở nơi công cộng;


b) Bố trí đủ công trình vệ sinh công cộng; phương tiện, thiết bị thu gom chất thải đáp ứng nhu cầu giữ gìn vệ sinh môi trường;


c) Có đủ lực lượng thu gom chất thải, làm vệ sinh môi trường trong phạm vi quản lý.


3. Những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, quy định giữ gìn vệ sinh môi trường nơi công cộng bị xử lý bằng các biện pháp sau đây:


a) Phạt tiền;


b) Buộc lao động vệ sinh môi trường có thời hạn ở nơi công cộng;


c) Tạm giữ phương tiện có liên quan gây ra ô nhiễm môi trường...”


“Điều 53. Yêu cầu về bảo vệ môi trường đối với hộ gia đình


1. Hộ gia đình có trách nhiệm thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường sau đây:


a) Thu gom và chuyển chất thải sinh hoạt đến đúng nơi do tổ chức giữ gìn vệ sinh môi trường tại địa bàn quy định; xả nước thải vào hệ thống thu gom nước thải;


b) Không được phát tán khí thải, gây tiếng ồn và tác nhân khác vượt quá tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng đến sức khoẻ, sinh hoạt của cộng đồng dân cư xung quanh;
c) Nộp đủ và đúng thời hạn các loại phí bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật;


d) Tham gia hoạt động vệ sinh môi trường khu phố, đường làng, ngõ xóm, nơi công cộng và hoạt động tự quản về bảo vệ môi trường của cộng đồng dân cư;


đ) Có công trình vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm bảo đảm  vệ sinh, an toàn đối với khu vực sinh hoạt của con người;


e) Thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường trong hương ước, bản cam kết bảo vệ môi trường...”


“Điều 54. Tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường” nêu rõ: Nhà nước khuyến khích cộng đồng dân cư thành lập tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường nơi mình sinh sống như: kiểm tra đôn đốc các hộ gia đình, cá nhân qui định vệ sinh môi trường; tổ chức thu gom xử lý rác thải…; xây dựng và tổ chức thực hiện hương ước về BVMT… 


Nghị quyết liên tịch Hội Nông dân Việt Nam - Bộ Tài nguyên và Môi trường số 02/2005/NQLT-HND-BTNMT ngày 13/5/2005 về việc phối hợp hành động BVMT và quản lý, sử dụng đất đai cũng nêu rõ mục đích:


1. Nâng cao nhận thức, kiến thức pháp luật về BVMT và quản lý sử dụng đất đai cho toàn thể cán bộ, hội viên và nông dân nhằm thay đổi hành vi, phong tục tập quán lạc hậu ảnh hưởng xấu đến môi trường nông thôn; hạn chế các hành vi vi phạm chính sách, pháp luật, phòng ngừa ô nhiễm môi trường sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên.
2. Phát huy vai trò “trung tâm và nòng cốt” của các cấp Hội Nông dân trong công tác quản lý sử dụng đất đai và BVMT nông thôn gắn với 3 phong trào và 5 chương trình công tác trọng tâm do Đại hội IV Hội Nông dân Việt Nam đề ra.


3. Xây dựng và nhân rộng các mô hình hội viên, nông dân tham gia có hiệu quả vào việc quản lý sử dụng đất đai, BVMT.
4. Tăng cường sự chỉ đạo phối hợp giữa Hội Nông dân Việt Nam với Bộ Tài nguyên và Môi trường và các đơn vị liên quan nhằm giải quyết sử lý triệt để những vi phạm.


* Một số mô hình cộng đồng tham gia BVMT đơn giản, dễ áp dụng tại những vùng nông thôn: 


1. Mô hình Đội vệ sinh tuyên truyền tự quản thu gom rác thải ở nông thôn:


* Xây dựng bãi chứa rác thải:


Xã đầu tư kinh phí để xây dựng và bố trí quỹ đất thích hợp để sử dụng làm bãi chứa rác. Bãi rác phải được nằm xa khu dân cư sinh sống, có đường giao thông thuận tiện cho việc vận chuyễn rác.


* Thành lập Đội kỹ thuật:


Thành lập Đội kỹ thuật lấy thanh niên làm nòng cốt (tuỳ thuộc vào phạm vi địa bàn triển khai để xác đinh qui mô của đội). Nhiệm vụ của Đội là thu gom rác theo định kỳ, phân loại và xử lý rác. Đội được đào tạo kiến thức xử lý rác thải hữu cơ, trang bị bảo hộ lao động và các trang thiết bị cần thiết khác.


Bên cạnh đó, thành lập thêm Đội thanh niên tình nguyện xanh BVMT khoảng 40 người, với thành phần là các thanh niên nhiệt tình, năng nổ cùng các đội viên là thành viên trong các hội đoàn thể, có nhiệm vụ tuyên truyền, vận động mọi người dân giữ gìn VSMT và hỗ trợ cho Đội kỹ thuật trong công tác BVMT.


* Chọn mô hình thu gom rác thải:


Chọn các hộ làm mô hình, mỗi hộ được cung cấp hai thùng nhựa chứa rác có nắp đậy, với 2 màu khác nhau. Rác được phân loại ngay tại hộ gia đình thành 2 loại (rác vô cơ và rác hữu cơ), được đựng trong 2 thùng riêng biệt. Thùng rác loại này cũng được đặt tại các hộ kinh doanh và một số nơi công cộng.


* Quá trình thu gom và xử lý:


Các hộ dân sẽ tiến hành phân loại rác ngay tại nhà; với các loại rác hữu cơ (như thức ăn thừa, lá cây…) được tận dụng và chôn lấp ngay trong vườn nhà; với các loại rác thải vô cơ (như chai thuỷ tinh, một số đồ nhựa, đồng, sắt...) có thể đem bán cho các cơ sở thu gom phế liệu; còn lại các loại vật liệu phế thải xây dựng và các phế thải gia đình khác không tận dụng được… sẽ chứa trong thùng rác gia đình để chờ thu gom; đặc biệt đối với rác thải nguy hại có tính chất độc hại (như bình ắc quy, pin đèn, bóng đèn điện nê ông, nhiệt kế, kim tiêm, bản mạch điện tử, đèn hình...) cần được thu gom riêng và bảo quản an toàn chờ xử lý.


* Qui trình xử lý:


Đội kỹ thuật hàng ngày đi thu gom tại các hộ dân, các điểm kinh doanh và các nơi công cộng. Rác thải sau khi được Đội kỹ thuật thu gom được tiến hành xử lý tuỳ theo rác vô cơ hay rác hữu cơ: với rác thải hữu cơ sẽ đem chôn lấp tại bãi chôn lấp, hoặc xử lý ủ thành phân hữu cơ; với rác thải vô cơ thì tuỳ thuộc vào các vật phẩm, có thể đem bán cho cơ sở thu gom phế liệu để tái chế (như sắt, đồng, thuỷ tinh, giấy các loại, túi nilon...), hoặc tập trung vào bãi chứa rác (như vật liệu xây dựng, sành sứ...), hoặc bảo quản an toàn chờ các cơ sở chuyên thu gom, xử lý rác thải (như bình ắc quy, pin đèn, bóng đèn điện nê ông, nhiệt kế, kim tiêm, bản mạch điện tử, đèn hình...)


Để đi từ nhận thức đến hành động, dự án cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền với các tổ chức đoàn thể; lấy ý kiến người dân trong việc xây dựng và triển khai mô hình thu gom, xử lý rác thải thông qua các cuộc họp tại các thôn, các hội đoàn thể...; sớm phổ biến và công bố mô hình triển khai. Việc triển khai mô hình thu gom rác thải phải có sự tham gia của cộng đồng và được ủng hộ của đông đảo người dân địa phương. Các hộ gia đình và điểm kinh doanh hàng tháng nộp phí thu gom rác thải. Dựa vào đặc trưng hoạt động của đối tượng có thể phân loại thành các nhóm để áp dụng các mức phí chung cho mỗi nhóm. Tham khảo mức phí hàng tháng đối với các hộ gia đình từ 3.000-5.000 đ/tháng; các điểm kinh doanh từ 20.000-40.000 đ/tháng.


2. Mô hình cộng đồng tham gia vào công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt.


* Phân loại rác tại nguồn:


ở các vùng nông thôn, chủ yếu là hoạt động sản xuất nông nghiệp nên trong thành phần rác thải có tới 70-80% là rác hữu cơ. Với lượng rác sinh hoạt không lớn, lại chủ yếu là rác thải hữu cơ nên việc phân loại rác cho từng hộ gia đình sẽ đỡ tốn kém: giảm được khối lượng và thời gian thu gom, biện pháp xử lý sẽ dễ dàng hơn cho từng loại, tránh được ô nhiễm do chúng gây ra. Mỗi hộ cần có thùng đựng để phân loại, tách riêng rác hữu cơ với rác khác để sử dụng, tái chế, hoặc bảo quản riêng biệt.


* Tổ chức thu gom:


Công việc thu gom và vận chuyển rác đến địa điểm tập trung của xã được giao cho một chủ thầu dịch vụ rác được dân cư lựa chọn thông qua đấu thầu do Ban môi trường xã đứng ra tổ chức. Rác được thu gom theo từng tổ dân cư, mỗi tổ cử ra đại diện tổ để tham gia vào Ban môi trường xã, thu phí rác của tổ viên nộp cho Ban môi trường xã hoặc đóng trực tiếp cho chủ thầu; đồng thời là người giám sát việc thu gom của các dịch vụ viên của chủ thầu. Việc thu gom tuỳ điều kiện cụ thể mà thực hiện một trong hai phương thức sau: các hộ gia đình tự đem rác đến gom tại địa điểm qui định của tổ dân cư, tiếp đó các dịch vụ viên của chủ thầu hàng ngày vận chuyển rác tới bãi rác của toàn xã (phương thức 1); hoặc là dịch vụ viên của chủ thầu hàng ngày đến gom rác tại các hộ gia đình chở đến bãi rác của toàn xã (phương thức 2). Phương thức 1 phù hợp với khu dân cư thuần nông, phương thức 2 phù hợp với khu dân cư phi nông nghiệp.
* Vận chuyển và xử lý rác:


Ban môi trường xã ký hợp đồng vận chuyển và xử lý rác với các đơn vị có đủ chức năng, năng lực để vận chuyển rác đi xử lý. Theo định kỳ, các đơn vị này đến bãi rác của toàn xã thu dọn, vận chuyển đến nơi xử lý tập trung (ví dụ ở Vĩnh Phúc có Công ty Môi trường và Dịch vụ  đô thị Vĩnh Yên).


* Phí rác:


 Do Ban môi trường qui định hoặc do kết quả đấu thầu. Trên nguyên tắc là phải bù đắp các chi phí và nhà thầu có lãi. Phí rác có nhiều mức khác nhau tuỳ theo từng đối tượng: các hộ thuần nông, các hộ phi nông nghiêp, các hộ sản xuất kinh doanh và các chợ.


* Một số hoạt động khác liên quan đến rác thải:


+ Phát động phong trào hạn chế dùng bao, túi nilon;


+ Tổ chức các đợt hoạt động làm sạch đường làng, ngõ xóm; khơi thông cống rãnh;


+ Thu dọn vệ sinh môi trường ở chợ và các nơi công cộng của xã;


+ Trùng tu, tôn tạo các di tích và thắng cảnh....
Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

hệ thống xông hơi, massage sơn nhà, lăn sơn bả matit gia công cơ khí dong phuc Máy làm đá mini may lam da buffet hải sản nắp hố ga đầu cáp ngầm 24kv