17:44 ICT Chủ nhật, 24/03/2019

Liên kết site

Video

Thành viên

Thống kê truy cập

váy đẹp Đang truy cập : 67

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 65


2 Hôm nay : 5956

thoi trang nu Tháng hiện tại : 224661

1 Tổng lượt truy cập : 12797764

Trang nhất » Tin Tức » Môi trường

Thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) và vấn đề bảo vệ môi trường ở Vĩnh Phúc

Thứ năm - 22/11/2007 05:15
Năm 1997 khi được tái lập, Vĩnh Phúc là một tỉnh nghèo với nền kinh tế có xuất phát điểm thấp, kinh tế hàng hoá chậm phát triển, công nghiệp nhỏ lẻ, lạc hậu, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu (chiếm 56% cơ cấu kinh tế của tỉnh), thu nhập bình quân đầu người còn thấp xa so với bình quân chung của cả nước. Thu ngân sách đạt 114 tỷ đồng, ngân sách Trung ương phải trợ cấp mới đáp ứng được yêu cầu chi, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Cũng vào thời điểm này, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở các nước trong khu vực đã làm cho tình hình thu hút đầu tư nước ngoài bị chững lại trên cục diện cả nước nói chung cũng như ở Vĩnh Phúc nói riêng.
Trước tình hình đó, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XII đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Phương hướng, nhiệm vụ cụ thể là: “Đẩy mạnh nhịp độ phát triển kinh tế, nhất là đối với công nghiệp, sớm thoát khỏi tình trạng kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, tạo tiền đề cho phát triển ổn định, vững chắc sau năm 2000, thu hẹp khoảng cách so với bình quân chung của cả nước, chuyển nền kinh tế theo hướng cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ”. Sau 10 năm phát triển, Vĩnh Phúc đã có những bước phát triển ấn tượng về kinh tế - xã hội và đạt được những thành tựu quan trọng, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt và vượt mục tiêu Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh đề ra. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 10 năm (1997 - 2006) đạt 16,84% năm, riêng giai đoạn 2001-2005 đạt 15,6% năm. Tổng thu ngân sách trên địa bàn năm 2006 đạt 4.467 tỷ đồng, tăng 39 lần so với năm 1997; mức tăng trưởng đạt xấp xỉ 17,0%, cao gần gấp đôi so với mức tăng trưởng bình quân chung của cả nước; đã cân đối được thu, chi ngân sách từ năm 2004 và có đóng góp cho Trung ương gần 20% thu nội địa. Cơ cấu kinh tế đã chuyển đổi nhanh theo hướng tích cực: công nghiệp chiếm 57%, dịch vụ 25,7%, nông nghiệp 17,3%. Vĩnh Phúc trở thành một trong 10 tỉnh có số thu đạt trên 3 nghìn tỷ đồng một năm. Hiện nay, Vĩnh Phúc là tỉnh xếp thứ 8 trong cả nước và thứ 4 trong các tỉnh phía Bắc về tổng thu ngân sách trên địa bàn, xếp thứ 6 trong cả nước và thứ 2 trong các tỉnh phía Bắc về thu ngân sách nội địa.


Trong lĩnh vực hoạt động kinh tế đối ngoại, Vĩnh Phúc thu được những kết quả quan trọng, nhất là các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Tính đến cuối năm 2006, đã có 450 dự án đầu tư trực tiếp vào tỉnh, trong đó có 110 dự án FDI với tổng số vốn đầu tư lên tới trên 2 tỷ USD. Hoạt động của các doanh nghiệp FDI đã trở thành nguồn lực quan trọng, đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh trong những năm qua.


Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong suốt 10 năm thì Vĩnh Phúc cũng tồn tại một thực tế khách quan mà quá trình phát triển kinh tế của tỉnh đang phải đối mặt. Đó là quá trình gia tăng mạnh mẽ việc khai thác tài nguyên thiên nhiên đất, nước, khoáng sản, đồng thời cũng phát sinh và tăng nhanh chóng về số lượng, thành phần nguy hại của các loại chất thải gây ô nhiễm môi trường… Tất cả những bức xúc trên cần sớm được giải quyết để đưa nền kinh tế, xã hội tỉnh nhà phát triển toàn diện. Mối tương quan giữa tăng trưởng kinh tế, gia tăng dân số, suy thoái tài nguyên, môi trường là một quy luật tất yếu của quá trình phát triển, chính quy luật này sẽ quyết định trạng thái bền vững hay không bền vững của quá trình phát triển.


Sử dụng mô hình I/O (Input /Output), nhóm tác giả Lâm Minh Triết và nnk ở thành phố Hồ Chí Minh đã cho thấy: để tạo ra một tỷ đồng sử dụng cuối cùng thì các hoạt động kinh tế trong khu vực Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam thải ra môi trường 3,1 tấn BOD5, 5,9 tấn TSS, 0,02 tấn Nitơ tổng số, 0,00045 tấn Phospho, tổng số thải vào không khí 2,9 tấn CO2 và thải vào môi trường đất 44,4 tấn chất thải rắn. Nhóm tác giả cũng chỉ ra các ngành kinh tế thuộc khu vực công nghiệp - xây dựng có tỷ trọng gây ô nhiễm nước và không khí là cao nhất, còn các ngành kinh tế thuộc khu vực dịch vụ, thương mại có tỷ trọng chất thải rắn cao nhất; tuy nhiên thành phần chất độc hại trong các ngành kinh tế khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm tỷ lệ cao hơn so với ngành kinh tế dịch vụ, thương mại.


Thực tiễn ở Vĩnh Phúc trong thời gian qua cho thấy, cả 2 đối tượng kinh tế trên đều thuộc những lĩnh vực phát triển mạnh mẽ nhất của tỉnh. Như vậy có thể khẳng định rằng, vấn đề môi trường của Vĩnh Phúc đang đứng trước những sức ép nặng nề về nguy cơ ô nhiễm và suy thoái môi trường nghiêm trọng.


Xem xét tình hình thực hiện Luật Bảo vệ môi trường ở các doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh cho thấy nhiều bất cập. Trong 110 dự án có vốn đầu tư nước ngoài, đến nay mới chỉ có 53 dự án lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc Cam kết bảo vệ môi trường theo quy định, đạt 48,6%. Nhiều doanh nghiệp không chấp hành nghiêm túc Luật Bảo vệ môi trường như: không tổ chức lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường, không lập Cam kết bảo vệ môi trường, không đăng ký quản lý chất thải nguy hại và giám sát chất lượng môi trường, không đầu tư hệ thống xử lý chất thải, hoặc có đầu tư nhưng xử lý không có hiệu quả, vi phạm các tiêu chuẩn môi trường, gây ô nhiễm môi trường… Có thể lấy ví dụ điển hình như công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) dệt len Lantian, công ty Liên doanh Woodsland, công ty TNHH Cơ khí chính xác Việt Nam I… trong quá trình sản xuất đã gây ảnh hưởng không tốt tới đời sống sinh hoạt, dẫn đến nhiều khiếu kiện của nhân dân tới các cơ quan chức năng. Việc xử lý các chất thải công nghiệp ở nhiều doanh nghiệp mang tính thủ công và tuỳ tiện, chưa có các biện pháp xử lý hiệu quả đảm bảo các quy định về bảo vệ môi trường.


Kết quả kiểm tra của Sở Tài nguyên và Môi trường tại 53 doanh nghiệp FDI cho thấy chỉ có 21 doanh nghiệp có hệ thống xử lý chất thải, đạt 39,6%. Nhiều doanh nghiệp lưu giữ hàng trăm tấn chất thải rắn, chất thải nguy hại mà chưa có hướng giải quyết hoặc lưu giữ tro thải sau khi thiêu huỷ chất thải rắn, thành phần chứa nhiều chất độc hại mà chưa có bãi chôn lấp đảm bảo; nhiều doanh nghiệp giao cho các tổ chức, cá nhân chưa có đủ điều kiện kỹ thuật thu gom, xử lý chất thải rắn càng làm cho công tác quản lý thêm khó khăn, phức tạp hơn; một số doanh nghiệp tự đốt chất thải ngay bên trong nhà máy gây ô nhiễm không khí. Tất cả các khu công nghiệp trên địa bàn đều chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung, nước thải sản xuất của các doanh nghiệp có thể được xử lý riêng, nhưng nhiều cơ sở không xử lý nước thải vẫn đổ thải trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm nguồn nước; chất thải rắn không có bãi chôn lấp, thu gom và tình trạng đổ thải tự do ra các bãi đất trống, ven đường đã xảy ra nhiều nơi trong tỉnh. Tất cả các nguyên nhân trên đã gây ra tình trạng môi trường của Vĩnh Phúc đang ngày càng xấu đi và có diễn biến phức tạp ở tất cả các thành phần môi trường như đất, nước, không khí; nhiều chỉ tiêu môi trường đã vượt quá tiêu chuẩn cho phép.


Nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên đó là nhận thức về các chính sách, giải pháp kỹ thuật, thể chế bảo vệ môi trường (BVMT) còn nhiều vấn đề chưa phù hợp. Trong công tác quy hoạch công nghiệp và đô thị chưa chú ý đến những yếu tố BVMT (như khoảng cách an toàn, vị trí an toàn, tính tập trung) đã dẫn đến quy hoạch không phù hợp, các khu công nghiệp nằm liền kề khu dân cư, các nhà máy độc hại nằm gần sông và trên tầng nước ngầm quan trọng. Chính sách phát triển công nghiệp và đô thị chưa đồng bộ, đặc biệt khi cơ sở hạ tầng khu công nghiệp và đô thị chưa đầy đủ đã đưa vào sử dụng dẫn đến khó khăn cho việc cung cấp nước, xử lý nước thải, chất thải rắn. Phần lớn các cơ sở sản xuất với thiết bị đã cũ, không đồng bộ, một số đã có hệ thống xử lý nhưng không vận hành thường xuyên, nhiều nguồn thải chưa có hệ thống xử lý đảm bảo tiêu chuẩn nên đã thải vào môi trường chất thải có nhiều chỉ tiêu vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Mức độ dân trí tăng lên nhưng nhận thức BVMT của mọi người chưa cao về ý thức tự giác, tự quản. Chưa có chính sách khuyến khích BVMT, chưa có đội quân đủ mạnh để xử lý hành chính, cưỡng chế BVMT. Giải pháp BVMT đã có nhưng không kiên quyết thực hiện, đặc biệt về nguồn tài chính cho các hệ thống xử lý chất thải còn nhiều khó khăn. Đội ngũ cán bộ quản lý BVMT còn quá ít, năng lực và kinh nghiệm còn nhiều hạn chế; đặc biệt ở cấp huyện, cấp cơ sở không có cán bộ chuyên trách về BVMT…


Để ngăn chặn, khắc phục ô nhiễm và suy thoái môi trường với những sức ép ngày càng gia tăng, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh đã có một số chính sách, giải pháp cụ thể. Ngày 01/6/2005, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đã ban hành Chỉ thị số 13/CT-TU “Về việc tăng công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước”. UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã phê duyệt nhiều dự án quan trọng nhằm xử lý, giải quyết những vấn đề môi trường đang nổi cộm, tranh thủ thu hút nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn Phi chính phủ (NGO) nhằm giải quyết những những vấn đề bức xúc về cơ sở hạ tầng như giao thông, thuỷ lợi, cấp nước sạch, xử lý nước thải đô thị; đặc biệt là dự án “Cải thiện môi trường đầu tư” nguồn vốn của ngân hàng JBIC Nhật Bản vừa được Chính phủ ký kết với số vốn trên 120 triệu USD. Tuy nhiên với điều kiện hiện nay, để duy trì tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững, trong những năm tới cần thực hiện tốt, đồng bộ các giải pháp cơ bản về môi trường và phát triển như sau:


Một là: Tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường nhằm xây dựng thói quen, nếp sống trong nhân dân, đồng thời phát huy tốt các phong trào cộng đồng bảo vệ môi trường;
Hai là: Rà soát và ban hành đồng bộ các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu lực thi hành các quy định về bảo vệ môi trường;


Ba là: Tăng cường đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư bảo vệ môi trường theo tinh thần của Nghị quyết 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị;


Bốn là: Xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường, nghiên cứu ban hành các cơ chế khuyến khích, huy động mọi nguồn lực tham gia bảo vệ môi trường;


Năm là: Tăng cường năng lực cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, trong đó phải tập trung nguồn lực, nhân lực cho các đơn vị cấp huyện (huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) và cấp xã (xã, phường, thị trấn);
Sáu là: Triển khai và áp dụng có hiệu quả các đề tài nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực BVMT, đặc biệt là các công nghệ mới về xử lý chất thải, khắc phục suy thoái môi trường; khuyến khích các cơ sở sản xuất áp dụng các biện pháp sản xuất sạch hơn; trong những năm tiếp theo, tỉnh cần ban hành cơ chế khuyến khích đầu tư có lựa chọn, ưu tiên áp dụng công nghệ sạch, thân thiện với môi trường;


Bảy là: Tăng cường hợp tác trong nước và quốc tế về bảo vệ môi trường, tranh thủ các nguồn vốn hỗ trợ và tài trợ của các tổ chức quốc tế.


Vĩnh Phúc sẽ trở thành một khu vực công nghiệp hoá cao của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ. Nhiều vấn đề môi trường phức tạp đã và sẽ nảy sinh đòi hỏi phải xem xét phòng ngừa, khắc phục.
Không thể có một chính sách kinh tế nào mà lại không ảnh hưởng tới môi trường tự nhiên, xã hội; và ngược lại cũng không thể có một thay đổi nào trong môi trường mà không tác động đến kinh tế - xã hội. Chỉ có thể giải quyết tốt mối quan hệ sâu sắc này bằng những chính sách, giải pháp phù hợp thì mới đảm bảo được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Tác giả bài viết: Hà Quang Tiến

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

hệ thống xông hơi, massage sơn nhà, lăn sơn bả matit gia công cơ khí dong phuc Máy làm đá mini may lam da buffet hải sản nắp hố ga đầu cáp ngầm 24kv