14:07 ICT Thứ tư, 12/12/2018

Liên kết site

Video

Thành viên

Thống kê truy cập

váy đẹp Đang truy cập : 167

Máy chủ tìm kiếm : 49

Khách viếng thăm : 118


2 Hôm nay : 12199

thoi trang nu Tháng hiện tại : 160849

1 Tổng lượt truy cập : 11945757

Trang nhất » Tin Tức » Khoa học - Công nghệ

Một số giải pháp xử lý chất thải chăn nuôi hiện nay

Thứ năm - 25/01/2018 15:51
Đã có nhiều công trình nghiên cứu của Viện Chăn nuôi nghiên cứu về các chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng đến sự phát thải các khí CH4, NH3, CO, H2S... trong chất thải của lợn, động vật nhai lại, gia cầm và nghiên cứu nhiều giải pháp khác nhau nhằm làm giảm thiểu sự phát thải các khí độc trong chất thải chăn nuôi công nghiệp, giảm tác động tiêu cực đến môi trường và ô nhiễm môi trường sinh thái; trong đó việc quy hoạch và giám sát quy hoạch cả tổng thể và chi tiết chăn nuôi theo miền, vùng sinh thái cho từng đối tượng gia súc, gia cầm, với số lượng phù hợp để không quá tải, gây ô nhiễm môi trường là biện pháp quan trọng có tầm chiến lược. Kỹ thuật xử lý chất thải chăn nuôi là áp dụng các phương pháp lý học, hóa học và sinh học đế giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Thông thường người ta kết hợp giữa các phương pháp với nhau để xử lý chất thải chăn nuôi hiệu quả và triệt để hơn.
Tuy nhiên, việc xử lý chất thải trong chăn nuôi ở Việt Nam mặc dù đã được quan tâm nhưng hiện tượng ô nhiễm môi trường do chất thải từ chăn nuôi đang ngày trở nên trầm trọng và đang là vấn đề bức xúc hiện nay. Ở Vĩnh Phúc, ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi lợn, bò sữa, gia cầm trong nông hộ và trang trại là vấn đề cần được quan tâm. Các giải pháp xử lý chất thải chăn nuôi trong nước hiện nay đang áp dụng chủ yếu vẫn là các giải pháp mà thế giới vẫn làm.
Xin tổng hợp và giới thiệu một số giải pháp xử lý chất thải chăn nuôi đã và đang được áp dụng hiện nay, cụ thể như sau:
1. Quy hoạch chăn nuôi
Chăn nuôi gia súc, gia cầm phải được quy hoạch phù hợp theo vùng sinh thái cả về số lượng, chủng loại để không bị quá tải, gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là những khu vực có sử dụng nguồn nước ngầm hoặc nguồn nước sông hồ cung cấp cho nhà máy nước sinh hoạt thì công tác quy hoạch chăn nuôi càng phải quản lý nghiêm ngặt. Khi xây dựng trang trại chăn nuôi cần phải đủ xa khu vực nội thành, nội thị, khu đông dân cư, đồng thời đúng thiết kế và phải được đánh giá tác động môi trường trước khi xây dựng trang trại đây là giải pháp vĩ mô mang tính chiến lược.
2. Xử lý chất thải chăn nuôi bằng hầm Biogas (hệ thống khí sinh học)
Trong thực tiễn, tùy điều kiện từng nơi, từng quy mô trang trại có thể sử dụng loại hầm (công trình khí sinh học) cho phù hợp. Xử lý chất thải chăn nuôi bằng công trình khí sinh học (KSH) được đánh giá là giải pháp hữu ích nhằm giảm khí thải Methane (khí có khả năng gây hiệu ứng nhà kính) và sản xuất năng lượng sạch. Hiện nay, việc sử dụng hầm Biogas đang được người chăn nuôi quan tâm vì vừa bảo vệ được môi trường, vừa có thể thay thế chất đốt, hoặc có thể được sử dụng cho chạy máy phát điện, tạo ra điện sinh hoạt gia đình và điện phục vụ trang trại.
Công trình khí sinh học giảm phát thải theo 3 cách sau: Giảm phát thải khí Methane từ phân chuồng; giảm phát thải khí nhà kính do giảm sử dụng chất đốt truyền thống; giảm phát thải khí nhà kính do sử dụng phân từ phụ phẩm KSH thay thế phân bón hóa học.
Như vậy, nhờ có công trình khí sinh học mà lượng lớn chất thải chăn nuôi trong nông hộ sẽ đựợc xử lý tạo ra chất đốt và chính điều đó sẽ góp phần giảm phát thải khí nhà kính rất hiệu quả. Tuy nhiên, giải pháp này mới chỉ dừng ở giai đoạn phân hủy tương đối. Nguồn chất thải, nguồn nước và chất cặn bã từ Biogas vẫn có thể gây ô nhiễm và vẫn cần được tiếp tục xử lý. Mặt khác, toàn bộ phân, nước tiểu, thức ăn rơi vãi lên men sinh khí trong chuồng nuôi vẫn gây ô nhiễm và bốc mùi độc hại trong một thời gian nhất định trước khi được dọn đến hầm xử lý Biogas. Ở Vĩnh Phúc, trong những năm qua tỉnh đã có các cơ chế chính sách hỗ trợ nông dân xây hầm Biogas để xử lý môi trường chăn nuôi thông qua các dự án và đã phát huy được hiệu quả.
3. Xử lý chất thải bằng chế phẩm sinh học
- Xử lý môi trường bằng men sinh học:
Từ đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, người ta đã sử dụng các chất men để giảm ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi được gọi là "Chế phẩm EM (Effective Microorganisms)", có nghĩa là vi sinh vật hữu hiệu. Ban đầu các chất này được nhập từ nước ngoài, nhưng ngày nay các chất men đã được sản xuất nhiều ở trong nước. Các men nghiên cứu sản xuất trong nước cũng rất phong phú và có ưu điểm là phù hợp hơn với điều kiện tự nhiên, khí hậu nước ta. Người ta sử dụng men sinh học rất đa dạng như: Dùng bổ sung vào nước thải, dùng phun vào chuồng nuôi, vào chất thải để giảm mùi hôi. Tuy nhiên, giải pháp này vẫn có những tồn tại nhất định, đặc biệt khi dùng phun sẽ làm tăng độ ẩm chuồng nuôi, gây bất lợi cho cơ thể gia súc, nhất là gia cầm.
- Chăn nuôi trên đệm lót sinh học:
Chăn nuôi trên đệm lót sinh học là sử dụng các phế thải từ chế biến lâm sản (phôi bào, mùn cưa...), hoặc phế phụ phẩm trồng trọt (thân cây ngô, đậu, rơm, rạ, trấu, vỏ cà phê...) cắt nhỏ để làm đệm lót có bổ sung chế phẩm sinh học. Sử dụng chế phẩm sinh học trên đệm lót là sử dụng “bộ vi sinh vật hữu hiệu" đã được nghiên cứu và tuyển chọn chọn thuộc các chi Bacillus, Lactobacillus, Streptomyces, Saccharomyces, Aspergillus... với mong muôn là tạo ra lượng vi sinh vật hữu ích đủ lớn trong đệm lót chuồng có lợi đường ruột, tạo các vi sinh vật sinh ra chất ức chế nhằm ức chế và tiêu diệt vi sinh vật có hại, để các vi sinh vật phân giải chất hữu cơ từ phân gia súc gia cầm, nước giải giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Trên cơ sở nghiên cứu gốc chế phẩm EM của Nhật Bản, các nhà nghiên cứu đã chọn tạo cho ra các sản phẩm EM chứa nhiều chủng loại vi sinh vật đã có mặt trên thị trường. Ngoài ra, nhiều cơ sở khác cũng đã nghiên cứu và chọn tạo ra nhiều tổ hợp vi sinh vật (men) phù hợp với các giá thể khác nhau và được thị trường chấp nhận như chế phẩm sinh học Balasa Nol của cơ sở Minh Tuấn; EMIC (Công ty CP Công nghệ vi sinh và môi trường); EMC (Công ty TNHH Hóa sinh Việt Nam); GEM, GEM-K, GEM-P1 (Trung tâm Tư vấn CTA)... Thực chất của quá trình này cũng là xử lý chất thải chăn nuôi bảo vệ môi trường bằng men sinh học. Ở nước ta, từ năm 2010 công nghệ này đã được áp dụng đầu tiên (năm 2014) tại thành phố Phủ Lý. Đệm lót sinh học là hướng đi mới và thu được những kết quả bước đầu đã được khẳng định là không gây ô nhiễm môi trường, giảm chi phí, giảm bệnh tật, lợn tăng trưởng nhanh, chất lượng thịt được người ưa chuộng, giá bán cao hơn, vì vậy mà hiệu quả hơn, phù hợp với quy mô chăn nuôi gà, lợn nông hộ. Ở Vĩnh Phúc đã triển khai thí điểm mô hình chăn nuôi có sử dụng đệm lót sinh học. Tuy nhiên, công nghệ sử dụng đệm lót sinh học kỵ nước, sinh nhiệt nên trong điều kiện nhiệt đới nóng ẩm như ở Việt nam, nhất là trong chăn nuôi lợn lượng nước tiểu của lợn nhiều dễ gây ẩm làm hạn chế tác dụng của giải pháp. Để khắc phục được hiện tượng lên men sinh nhiệt cần có các thiết bị làm mát, và như vậy sẽ phải đầu tư tốn kém hơn.
4. Xử lý chất thải bằng ủ phân hữu cơ (Compost)
Xử lý chất thải bằng ủ phân hữu cơ (Compost) sử dụng chủ yếu phân của động vật mà thông qua hoạt động trực tiếp hay gián tiếp của vi sinh vật phân hủy và làm tăng cao chất lượng của sản phẩm, tạo nên phân bón hữu cơ giàu chất dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng, ủ phân bằng phương pháp phủ kín bằng nilon hoàn toàn nhờ sự lên men tự nhiên. Nhờ quá trình lên men và nhiệt độ tự sinh của đống phân ủ sẽ tiêu diệt được phần lớn các mầm bệnh nguy hiểm, thậm chí ủ phân có thể phân hủy được cả xác động vật chết khi lượng phế thải thực vật đủ lớn. Trong phân ủ có chứa chất mùn làm đất tơi xốp, tăng dung lượng hấp thụ khoáng của cây trồng, đồng thời có tác dụng tốt đến hệ vi sinh vật có ích trong đất. Phân ủ còn có tác dụng tốt đối với tính chất lý hoá học và sinh học của đất, không gây ảnh hưởng xấu đến người, động vật và giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi trường sinh thái. Biện pháp này được áp dụng nhiều và giải pháp này cũng được áp dụng nhiều ở nông hộ Vĩnh Phúc. Tuy nhiên, đây là biện pháp thủ công, chất thải trong chuồng vẫn có thời gian gây ô nhiễm trước khi được xử lý ủ hữu cơ và ô nhiễm khi vận chuyển đến nơi ủ.
5. Xử lý bằng công nghệ ép tách phân
Đây là công nghệ hiện đại được nhập vào nước ta chưa lâu nhưng rất hiệu quả và đang được nhiều nhà chăn nuôi quan tâm áp dụng. Dựa trên nguyên tắc “lưới lọc” máy ép có thể tách hầu hết các tạp chất nhỏ đến rất nhỏ trong hỗn hợp chất thải chăn nuôi, tùy theo tính chất của chất rắn mà có các lưới lọc phù hợp. Khi hỗn hợp chất thải đi vào máy ép qua lưới lọc thì các chất rắn được giữ lại ép khô và ra ngoài để xử lý riêng còn lượng nước theo đường riêng chảy ra ngoài hoặc xuống hầm KSH xử lý tiếp. Độ ẩm của sản phẩm (phân khô) có thể được điều chỉnh tùy theo mục đích sử dụng. Quá trình xử lý này đầu tư ban đầu tốn kém hơn nhưng rất hiện đại, nhanh, gọn, ít tốn diện tích và đang là một trong những biện pháp hiệu quả nhất đối với các trang trại chăn nuôi lợn, trâu, bò theo hướng công nghiệp hiện nay.
6. Xử lý nước thải bằng ôxy hóa
Phương pháp này thường được dùng đối với các bể lắng nước thải.
- Xử lý bằng sục khí
Biện pháp này là dùng máy bơm sục khí xuống đáy bể với mục đích làm cho các chất hữu cơ trong nước thải được tiếp xúc nhiều hơn với không khí, và như vậy quá trình ôxy hóa xảy ra nhanh, mạnh hơn; đồng thời kích thích quá trình lên men hiếu khí, chuyển hóa các chất hữu cơ, chất khí độc sinh ra trở thành các chất ít gây hại tới môi trường. Sau khi lắng lọc, nước thải trong hơn, giảm ô nhiễm môi trường và có thể dùng tưới cho ruộng đồng.
- Xử lý bằng Ôzôn (O3)
Để xứ lý nhanh, triệt để các chất hữu cơ và các khí độc sinh ra trong các bể gom nước thải, bể lắng, người ta đã bổ sung khí Ôzôn (O3) vào quá trình sục khí xử lý hiếu khí nhờ các máy tạo Ôzôn công nghiệp. Ôzôn là chất không bền, dễ dàng bị phân hủy thành Ôxy phân tử và Ôxy nguyên tử. Ôxy nguyên tử tồn tại trong thời gian ngắn nhưng có tính ôxy hóa rất mạnh làm cho quá trình xử lý chất thải nhanh và rất hữu hiệu. Ngoài ra, quá trình này còn tiêu diệt được một lượng vi rút, vi khuẩn, nấm mốc và khử mùi trong dung dịch chất thải. So với phương pháp sục khí thì phương pháp này có tốn kém hơn nhưng hiệu quả hơn. Tuy nhiên, cần chú ý thận trọng khi sử dụng Ôzôn trong xử lý môi trường là phải có nồng độ phù hợp, không dư thừa vì chính Ôzôn cũng chính là chất gây độc.
- Xử lý bằng Hiđrô perôxit (H202)
Hiđrô perôxit H202 (Ôxy già) thường được ứng dụng rộng rãi như: Tẩy rửa vết thương trong y tế, làm chất tẩy trắng trong công nghiệp, chất tẩy uế, chất ôxi hóa... Người ta cùng có thể bổ sung Hyđrô perôxit (H202) vào trong nước thải để xử lý môi trường. Ôxy già là một chất ôxy hóa - khử mạnh. Trong quá trình phân hủy (phản ứng xảy ra mạnh mẽ khi có xúc tác), đầu tiên Ôxy nguyên tử được tạo ra và tồn tại trong thời gian rất ngắn, rồi nhanh chóng thành khí Ôxy (O2). Ôxy nguyên tử có tính ôxy hóa rất mạnh, vì vậy đã ôxy hóa các chất hữu cơ, diệt khuẩn, khử mùi hiệu quả trong dung dịch chất thải. Bổ sung Ôxy già vào nước thải xử lý môi trường tốn kém hơn nhưng hiệu quả cao. Cần chú ý khi bổ sung Ôxy già xử lý môi trường là phải tìm hiểu cách bảo quản Ôxy già, liều lượng, chất xúc tác... và nồng độ đủ thấp để an toàn. Nếu nồng độ cao dễ xảy ra cháy nổ hoặc ngộ độc nguy hiểm.
Xử lý chất thải theo phương pháp ôxy hóa có đem lại hiệu quả, nhưng nhìn chung là không tiện lợi đối với người dân khi thực hiện, đồng thời chi phí cao (xây bể, mua máy tạo Ôzôn, máy tạo H202), thao tác thực hành yêu cầu kỹ thuật cao mà chất thải vẫn có thể bốc mùi gây ô nhiễm trong thời gian khi chưa đưa vào bể xử lý, trong thực tế chăn nuôi khó áp dụng.
7. Sử dụng chế phẩm Bio-catalyse
Chế phẩm Bio-catalyse đã được Bộ nông nghiệp & PTNT chứng nhận và cho phép sử dụng trong sản xuất chăn nuôi. Đặc điểm: Là một loại bột khoáng, silica, dạng bột, màu trắng ngà, được sản xuất bằng công nghệ hoạt hóa ở mức độ cao. Thành phần chính gồm SiO2, Al2O3, Fe2O3, K20, Na2O, CaO, MgO, chất mang. Bio-catalyse có khả năng: Trao đổi ion mạnh trong đường ruột, xúc tác các Enzim, thủy phân Protein, Lipit…; kích hoạt các vi sinh vật có lợi trong đường ruột phát triển tốt nhất, đạt mật độ cao tối đa; thủy phân các Cluster của nước thành các đơn phân tử, làm cho nước trong hệ thống tiêu hóa, của động vật trở lên siêu loãng giúp quá trình hòa tan các chất dinh dưỡng, Vitamin, khoáng chất, giúp cho quá trình tiêu hóa thức ăn và hấp thu dinh dưỡng của vật nuôi tốt hơn (làm tăng tỷ lệ tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng), từ đó làm giảm các thành phần: Nitơ, Cacbonhydrat, Lưu huỳnh... là những thành phần chính tạo mùi hôi và độc hại chứa trong chất thải của vật nuôi. Nâng cao khả năng miễn dịch cho vật nuôi giúp cho vật nuôi phát triển tốt. Bio-catalyse không tồn dư trong thịt, trứng của vật nuôi. Chỉ tham gia xúc tác đó thải ra môi trường và tiếp tục làm tăng khả năng phân hủy ở ngoài môi trường.

Tác giả bài viết: Thu Thủy - Sở Khoa học và Công nghệ Vĩnh Phúc

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

hệ thống xông hơi, massage sơn nhà, lăn sơn bả matit gia công cơ khí dong phuc Máy làm đá mini may lam da buffet hải sản nắp hố ga đầu cáp ngầm 24kv