06:37 ICT Chủ nhật, 29/03/2020

Liên kết site

Video

Thành viên

Thống kê truy cập

váy đẹp Đang truy cập : 36

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 34


2 Hôm nay : 2657

thoi trang nu Tháng hiện tại : 293058

1 Tổng lượt truy cập : 16290409

Trang nhất » Tin Tức » Đời sống Xã hội

Con người, tự nhiên và niềm tin

Thứ ba - 10/11/2009 23:05
Sự kỳ diệu và hùng vĩ của thiên nhiên luôn khiến con người trở nên nhỏ bé. (Ảnh: ThienNhien.Net)

Sự kỳ diệu và hùng vĩ của thiên nhiên luôn khiến con người trở nên nhỏ bé. (Ảnh: ThienNhien.Net)

Con người sống dựa vào thiên nhiên từ thủa bình minh lịch sử. Với sự nâng đỡ, dung dưỡng của thiên nhiên, con người thoát thai trở thành một chủng loài siêu việt, sinh sôi nảy nở khắp mặt đất. Cùng với tiến hóa của nền văn minh nhân loại, thế giới quan và niềm tin của con người không ngừng đổi thay. Thế nhưng, đối mặt với những khủng hoảng và thách thức trong giai đoạn này của lịch sử nhân loại, có những giá trị có từ ngàn xưa vẫn cần được cổ vũ và nuôi nấng.

Từ xa xưa, con người đã sống phụ thuộc vào tự nhiên, "thờ cúng tự nhiên". Tự nhiên được con người qui thành những lực lượng siêu nhiên, đấng sáng tạo và các vị thần linh, có quyền sinh, quyền sát đối với con người.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, đặc biệt là của khoa học kỹ thuật, con người đã dần hiểu biết được tự nhiên; tự nhiên dần dần bị con người biến đổi. Với lối tư duy duy lý và lý thuyết "con người là trung tâm", con người đã mặc sức khai phá tự nhiên để phục vụ cho sự sống của mình. Và rồi, cái gì phải đến đã đến, con người đã bị tự nhiên “trả thù”. Ngày nay, con người đang phải gánh chịu những hậu quả tiêu cực do chính mình gây ra cho môi trường. Nguy cơ của một cuộc khủng hoảng sinh thái toàn cầu là có thực nếu như con người không chịu thay đổi lối tư duy của mình để tạo dựng một cách ứng xử mới đối với tự nhiên.

Bởi vậy, việc khôi phục lại tình yêu của con người đối với tự nhiên ngày nay là điều rất cần thiết. Song, đây sẽ không phải là một tình yêu tôn giáo mù quáng, mà dựa trên cơ sở sự hiểu biết sâu sắc về tự nhiên và dựa trên sự nhận thức về vai trò, về trách nhiệm và nghĩa vụ của con người đối với tự nhiên - cội nguồn đã sản sinh và nuôi dưỡng con người và xã hội loài người.

Triết lý tôn giáo và ý thức bảo tồn thiên nhiên

Đúng là con người đã làm thiên nhiên nhiều phen nổi giận. Những trận ngập lụt lịch sử; những trận gió, bão, sóng thần; những trận động đất, núi lửa; những thay đổi về môi trường và biến đổi khí hậu..., tất cả đã gây ra bao nhiêu tổn thất cho xã hội loài người, thiệt hại về tính mạng và của cải vật chất đã lên tới con số khổng lồ, kéo theo nhiều loại dịch bệnh nguy hiểm.

Nói như vậy không có nghĩa là con người bàng quan với sự “đe dọa” của thiên nhiên. Con người đủ thông minh để nhận thấy được những hậu quả mà họ đang phải gánh chịu xuất phát từ chính hành động và việc làm của họ. Họ chặt cây, phá rừng nên nguy cơ bão lụt cao hơn; họ gây ô nhiễm môi trường nên khí hậu biến đổi... và thiên tai, dịch bệnh xảy ra là tất yếu. Vì muốn sửa chữa những sai lầm được cho là “bất đắc dĩ” ấy, con người cũng đã phải bỏ ra không ít thời gian, tiền của... kêu gọi toàn nhân loại giữ gìn môi trường trong sạch, bảo tồn thiên nhiên tốt hơn. Nhưng kết quả thu được thì vẫn còn rất hạn hẹp so với mối “đe dọa” to lớn.

Đã có rất nhiều tổ chức, đơn vị được lập ra chỉ để nhằm mục đích này. Thông qua các dự án, chương trình thiết thực, họ kêu gọi toàn nhân loại chung tay trong cuộc chiến chống ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu và thiên tai... Trong đó, sự góp mặt của tôn giáo được kỳ vọng sẽ đem lại hiệu quả trong cuộc chiến ấy.

Khác với con người, vốn nhìn thiên nhiên như một kho báu có thể khai thác và sử dụng, tôn giáo hướng đến thiên nhiên như một “linh vật”, có giá trị tinh thần hoặc sức mạnh siêu nhiên. Hầu hết các tôn giáo đều lấy phương châm sống hòa hợp với thiên nhiên, tôn trọng lẽ tự nhiên và giữ gìn môi trường… làm nguyên tắc răn dạy.

Theo giáo lý đạo Phật, có sự tùy thuộc mật thiết giữa môi trường thiên nhiên và các loài sinh vật hữu tình sống trong môi trường. Để tồn tại, chúng ta phải có một đời sống hợp quần dựa trên quan hệ bình đẳng và hòa hiếu. Nếu chúng ta khai thác quá mức những lợi ích từ môi trường thì chính chúng ta phải chịu đau khổ và các điều kiện sống cũng sẽ thay đổi. Khi chúng thay đổi một cách thảm hại thì sẽ gây hệ lụy cho cả thế hệ mai sau.

Do vậy, để thành công trong công việc bảo vệ và giữ gìn môi trường thiên nhiên, điều quan trọng nhất là thiết lập một sự quân bình nội tại mỗi con người của mình. Sự thiếu hiểu biết về môi trường và sự lạm dụng của mỗi người sẽ đe dọa đến hệ sinh thái và cộng đồng nhân loại.

Lời dạy của Đức Phật thường bao hàm một thái độ tôn kính và dịu dàng không chỉ đối với tất cả những sự vật có tri giác, mà còn đối với cây cối, với sự nhấn mạnh sâu sắc. Cứ vài năm một lần, tất cả những người theo đạo Phật phải trồng một cái cây và phải chăm sóc nó cho đến khi lớn lên an toàn. Họ tin rằng, việc làm đó sẽ dẫn đến sự phát triển kinh tế thần kỳ, độc lập khỏi bất cứ sự trợ giúp nào của nước ngoài.

Đạo phật cũng nhấn mạnh đến nguyên lý “Cái này có nên cái kia có; Cái này không nên cái kia không; Cái này sinh nên cái kia sinh; Cái này diệt nên cái kia diệt” vì nó đề cao tinh thần bình đẳng trên phương diện cộng sinh. Sự diệt vong của một hiện hữu sẽ tác động đến sự sinh tồn của các cá thể còn lại. Chính vì điều này mà Phật giáo chủ trương không nên xem thường mối liên hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên môi trường.

Áp dụng nguyên lý này, chúng ta sẽ thấy được một chuỗi hệ quả và những nguy hiểm do sự gia tăng dân số nhảy vọt sinh ra. Khi dân số tăng thì những nhu cầu về lượng thực, nơi trú ngụ, trường học, bệnh xá…. tương ứng tăng lên. Những đòi hỏi về diện tích sản xuất lương thực, về mặt bằng xây dựng và chế biến, về giao thông và tiếp liệu…. cũng phải tăng theo. Để thỏa mãn những nhu cầu và đòi hỏi này, con người đã tăng cường sự tiến công vào môi trường và thiên nhiên một cách dữ dội và sâu rộng. Nhưng, quả đất chúng ta chịu giới hạn về diện tích và sức tải. Nó không thể đáp ứng tất cả mọi đòi hỏi và sự bành trướng vô tận của con người. Con người càng tăng sức ép vào quả đất thì càng tạo ra nhiều mâu thuẫn và hậu quả tiêu cực mà chính con người phải gánh chịu.

Phật giáo cho rằng, tư tưởng con người quyết định tất cả hành động của con người. Và một môi trường sống thật sự trong lành, không ô nhiễm khi và chỉ khi tất cả mọi người đều có ý thức bảo vệ và gìn giữ nó. Do đó, muốn giữ gìn môi trường trong sạch cần phải lấy thay đổi tư tưởng của con người làm điều kiện tiên quyết.

Cùng quan điểm với Phật giáo, Đạo giáo cũng cho rằng, con người nên kiềm chế sự theo đuổi lợi nhuận có được từ thiên nhiên, nếu cố tình đi ngược lại sự phát triển hài hòa và tính cân bằng của tự nhiên thì sớm muộn cũng sẽ thất bại.

Trong Đạo giáo, mọi thứ bao gồm hai lực lượng đối diện được gọi là Âm và Dương. Hai lực lượng nằm trong cuộc đấu tranh liên tục trong tất cả mọi thứ. Khi đạt đến sự hài hòa thì năng lượng cuộc sống sẽ tự tạo ra. Một người hiểu được điều này sẽ không khai thác tự nhiên, nhưng sẽ coi nó tốt và học hỏi từ nó. Bởi họ biết về lâu dài, việc sử dụng quá mức của thiên nhiên sẽ mang đến nhiều thiên tai, thậm chí là sự tuyệt chủng của toàn nhân loại.

Đạo giáo nhấn mạnh, nếu chúng ta hiểu được sự đa dạng của các loài sinh vật trên trái đất cần thiết và quan trọng đến mức nào, nếu tất cả mọi thứ đều được bảo tồn và phát triển… thì xã hội này sẽ phát triển thịnh vượng. Bằng không, nó sẽ bị hủy diệt.

Có thể nói, đây là một quan điểm rất tiến bộ của Đạo giáo vì nó khuyến khích con người hướng đến bảo tồn thiên nhiên và môi trường sống của các loài sinh vật.

Các tín đồ theo Ấn Độ giáo cũng rất tôn trọng thiên nhiên. Bởi đối với họ, mọi sinh vật sống là thiêng liêng, là một phần của Thiên Chúa, vì thế chúng cần được "đối xử" từ bi. Quan niệm này xuất phát từ suy nghĩ linh hồn có thể được tái sinh vào rất nhiều hình thức của cuộc sống, có thể trú ngụ ở cỏ cây, những con sông hay ngọn núi. Hầu hết người Hindu ăn chay cũng là vì niềm tin này.

Trong khi đó, người Hồi giáo lại tin rằng, thánh Allah đã tạo ra con người và vạn vật. Thánh Allah là sự thống nhất và sự thống nhất của ông được phản ánh trong sự thống nhất của loài người và thiên nhiên. Vì vậy, mọi người dân theo đạo Hồi đều ý thức việc duy trì và gìn giữ sự toàn vẹn của Trái đất, hệ thực vật, động vật hoang dã và môi trường. Họ tự thấy rằng mình phải có trách nhiệm giữ cân bằng và hài hòa trong sáng tạo của Allah. Có thể tìm thấy tư tưởng này trong rất nhiều cuốn sách viết về việc bảo vệ môi trường và các loài động vật, bảo vệ rừng cũng như hạn chế sự tăng trưởng của thành phố.

Muốn vun trồng hòa bình, hãy giữ gìn thụ tạo

Đây là đề tài mà Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI chọn cho Ngày Hòa Bình Thế Giới mùng 1 tháng Giêng năm 2010, cũng là lời kêu gọi tất cả các con chiên phải có ý thức trong việc bảo tồn thiên nhiên và gìn giữ hòa bình thế giới.

Với thông điệp này, Đức Giáo hoàng muốn khích lệ mọi người có ý thức cao đối với tương quan mật thiết giữa thế giới toàn cầu và việc bảo vệ thiên nhiên và vun trồng thiện ích của hòa bình. Mối tương quan này ngày càng bị thảo luận vì liên quan đến nhiều vấn đề về môi trường sinh sống tự nhiên của con người, tới việc sử dụng các nguồn tài nguyên, các thay đổi khí hậu, việc áp dụng và sử dụng kỹ thuật sinh học, hiện tượng dân số gia tăng… Nếu gia đình nhân loại không biết đối phó với các thách đố mới này với ý thức công bằng và bình đẳng xã hội và tình liên đới quốc tế, thì sẽ có nguy cơ gieo vãi bạo lực giữa các dân tộc và giữa các thế hệ hiện tại và các thế hệ tương lai.

Đức Giáo hoàng nhấn mạnh, việc sử dụng thiên nhiên đối với chúng ta diễn tả một trách nhiệm đối với người nghèo, đối với các thế hệ tương lai và đối với toàn nhân loại. Coi thiên nhiên như là một ”cấm kị không thể đụng tới” hay biện minh cho việc sử dụng nó thái qúa đều là các lập trường sai lầm. Cần phải có một sự cai quản có trách nhiệm đối với thiên nhiên để canh giữ nó, làm cho nó sinh lợi và vun trồng nó cả trong các hình thức mới mẻ để nuôi người dân sống tại đó. Thông điệp cũng cảnh cáo việc vơ vét các tài nguyên thiên nhiên làm nảy sinh ra bóc lột và các xung khắc thường xuyên giữa các quốc gia và bên trong một nước.

Những lời răn ấy không chỉ có ý nghĩa về mặt giáo lý mà từ nhiều năm qua, nó đã được hiện hữu bằng những hoạt động tôn giáo thực tiễn. Rất nhiều những chương trình đã được phía tôn giáo triển khai, nhằm kêu gọi nhân loại yêu quý và bảo tồn thiên nhiên tốt hơn như ”Chống nghèo đói”, “Xây dựng hòa bình”, “Gia đình nhân loại, cộng đoàn hòa bình”, ”Bản vị con người, trọng tâm của hòa bình”…

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 của Phật Giáo Tây Tạng khi tham dự một hội nghị về việc bảo vệ môi trường và phát triển, do Liên Hợp Quốc tổ chức cũng khẳng định: Chúng ta phải ngồi lại gần nhau để giải quyết những vấn đề nghiêm trọng mà chúng ta sắp đương đầu là nạn nhân mãn, sự bùng nổ của vũ khí hạt nhân, nguồn tài nguyên thiên nhiên đã bị tiêu diệt dần và sự khủng hoảng về môi trường đang ập đến, chúng đang đe dọa bầu không khí của chúng ta, nước uống và cỏ cây cùng với cuộc sống bình yên của loài người. Có ý thức và trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường là một nền tảng sống còn của tất cả trên hành tinh nhỏ bé này. Có trách nhiệm chung ở đây tức là bớt lạm dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, phá bỏ những lò hạt nhân nguyên tử, đó là cái mấu chốt cho sự sống còn của loài người, cũng là một nền tảng vững chãi cho nền hòa bình thế giới.

Để bảo hộ những sự kiện trọng đại này, Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 cho rằng, Liên hợp quốc phải tìm ra những giải pháp để ngăn chặn những cuộc xung đột về quân sự và kinh tế mậu dịch.

Cùng với nhiều tổ chức xã hội, có thể nói tôn giáo đã góp một tiếng nói nhất định và có ảnh hưởng lớn trong việc giúp con người yêu thiên nhiên hơn, có ý thức hơn trong việc bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ môi trường.

Minh chứng cho sự ảnh hưởng của tôn giáo trong vấn đề này, rất nhiều những tổ chức chính phủ cũng như phi chính phủ đã bắt đầu liên kết, làm việc với lãnh đạo các tôn giáo về các dự án môi trường. Trong đó, WWF là một nhóm môi trường điển hình đi đầu trong việc này.

Niềm tin và sự trường tồn của nhân loại

Xin lấy lời của Đức Đạt Lai Lạt Ma làm đoạn kết cho bài này. Ngài cho rằng mục đích của các tôn giáo không phải kiến tạo chùa cao, tượng lớn, thánh đường nguy nga và tăng thêm số lượng tín đồ.... mà tôn giáo chỉ đến với loài người và hướng dẫn họ đi ra khỏi chốn tối tăm cùng mạt mà chính họ đã gây tạo. Mỗi tôn giáo trên thế giới, dù có nhiều quan điểm khác nhau về triết thuyết, nhưng trước và trên hết vẫn là những lời dạy làm giảm bớt lòng ích kỷ và hãy thương yêu lẫn nhau.

Tác giả bài viết: Trung tâm CNTT

Nguồn tin: thiennhien.net

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

hệ thống xông hơi, massage sơn nhà, lăn sơn bả matit gia công cơ khí dong phuc Máy làm đá mini may lam da buffet hải sản nắp hố ga đầu cáp ngầm 24kv